Thứ Ba, 29 tháng 8, 2017

A-37B Dragonfly 68-7921

Máy bay cường kích A-37B, serial number 68-7921 nằm trong loạt máy bay A-37B được sản xuất năm 1968 tại nhà máy của công ty Cessna ở Wichita, Kansas (Mỹ). Năm 1969, với việc Mỹ thực hiện chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh", A-37B 68-7921 được chuyển giao cho KQ VNCH và đưa vào biên chế của Phi đoàn 516 "Phi Hổ" thuộc Không đoàn 41 Chiến thuật, Sư đoàn 1 Không quân đóng tại Sân bay Đà Nẵng (Phi đoàn 516 là phi đoàn chiến đấu thứ hai của KQ VNCH, tiền thân là Phi đoàn 2 Khu trục, trước khi trang bị A-37B phi đoàn này sử dụng máy bay cường kích T-28B/C Trojan, A-1H/E Skyraider, từng tham gia chiến dịch "Bắc phạt" phối hợp với KQ Mỹ tấn công miền Bắc tháng 2-1965).

Sau chiến dịch giải phóng Huế-Đà Nẵng và Tây Nguyên tháng 3-1975, A-37B 68-7921 trở thành chiến lợi phẩm của QĐNDVN trong tình trạng nguyên vẹn ở Sân bay Phù Cát (Bình Định), sau đó được khôi phục, kiểm tra và chuyển vào Sân bay Thành Sơn (Phan Rang) nhằm phục vụ cho ý đồ sử dụng máy bay chiến lợi phẩm để tham gia chiến đấu trong Chiến dịch Hồ Chí Minh của KQNDVN.

Ngày 28-4-1975, Phi đội Quyết Thắng gồm 5 máy bay A-37 - trong đó có 68-7921 - do các phi công của Trung đoàn 923 (đoàn Yên Thế) lái đã ném bom thành công Sân bay Tân Sơn Nhất, phá hủy một số máy bay của KQ VNCH.

Ngay sau Ngày Chiến thắng 30-4-1975, các máy bay A-37 chiến lợi phẩm di chuyển vào Sân bay Biên Hòa và ngày 4-5-1975 thực hiện chuyến bay tuần tiễu ra Côn Đảo (Côn Đảo được dự kiến giải phóng bằng một trận đánh hiệp đồng hải-lục-không quân, tuy nhiên phương án này đã không cần phải thực hiện vì đảo đã tự nổi dậy).

Mặc dù không có thêm thông tin, nhưng với tình trạng sẵn sàng chiến đấu như vậy, gần như chắc chắn A-37B 68-7921 sẽ tiếp tục có mặt trong các trận đánh giải phóng vùng biển Tây Nam tháng 5-1975 cũng như trong chiến tranh biên giới Tây Nam 1977-1979.

Năm 1982, toàn bộ các máy bay A-37 được loại khỏi biên chế KQNDVN. Tháng 9-1989, A-37B 68-7921 được bán cho Australian Aviation Facilities ở Sydney (Úc), tiếp đó qua tay một vài chủ khác cho đến khi được Supertweet Inc ở Medley, Florida (Mỹ) mua lại. Công ty này đã sửa chữa khôi phục và cho chiếc máy bay này bay trở lại tháng 11-2012.


Hình ảnh:



A-37B 68-7921 tại Sân bay Đà Nẵng năm 1970. Ảnh: Supertweet.

A-37B 68-7921 năm 1972 trong biên chế KQ VNCH. Lưu ý phù hiệu "Phi Hổ" của Phi đoàn 516 sơn trên mặt trái đuôi đứng. Ảnh: Supertweet.

A-37B 68-7921 do KQNDVN sử dụng tại Sân bay Thành Sơn ngày 27 hoặc 28-4-1975. Lúc này máy bay vẫn được giữ nguyên phù hiệu KQVNCH trên thân và phù hiệu Không đoàn 41 ở mặt phải đuôi đứng. Ảnh: PV Nguyễn Xuân Át.

Có thể nhận ra A-37B 68-7921 nhờ dải băng xanh khá đặc trưng. Ảnh: PV Nguyễn Xuân Át.

Phi công Nguyễn Thành Trung trong buồng lái A-37B 68-7921, có lẽ để kiểm tra tình trạng kỹ thuật? Ảnh: PV Nguyễn Xuân Át.
Phi công Từ Đễ chụp ảnh trước A-37B 68-7921. Có lẽ Từ Đễ là người lái chiếc này khi ném bom Tân Sơn Nhất? Ảnh: PV Nguyễn Xuân Át.
Phi đội Quyết Thắng ngày 28-4-1975 trước khi xuất kích. A-37B 68-7921 nằm phía xa trong hình. Ảnh: PV Nguyễn Xuân Át.



A-37B 68-7921 tại Sân bay Biên Hòa sau khi thực hiện chuyến bay ra Côn Đảo ngày 4-5-1975. Lưu ý phù hiệu KQ VNCH và phù hiệu "Phi Hổ" đều đã được thay thế bằng phù hiệu Giải phóng (nửa xanh nửa đỏ). Dải băng xanh thì vẫn còn, không rõ sau này có bị xóa đi không. Ảnh: PV Nguyễn Xuân Át.

Ngoài ra phù hiệu Không đoàn 41 cũng đã được sơn xóa. Ảnh: PV Nguyễn Xuân Át.






A-37B 68-7921 được tháo dỡ và vận chuyển sang Úc năm 1989. Ảnh: Supertweet.


Quá trình phục hồi A-37B 68-7921. Ảnh: Supertweet.

A-37B 68-7921 sau khi được sửa chữa và bay lại năm 2012, lúc này mang callsign Dragon 921. Ảnh: Supertweet.

Máy bay đã được khôi phục màu sơn và phù hiệu cũ như thời còn hoạt động trong KQ VNCH. Ảnh: Supertweet.











Thứ Sáu, 7 tháng 7, 2017

"Giải mã" một bức ảnh về pháo binh Việt Nam



Trên đây là một bức ảnh đã trở nên khá nổi tiếng về giai đoạn kháng chiến chống Pháp, chụp lại cảnh các chiến sĩ pháo binh Việt Nam đang chuẩn bị chiến đấu ở mặt trận Hà Nội trong 60 ngày đêm bảo vệ Thủ đô (tháng 12-1946 tới tháng 2-1947). Trong cuốn chính sử của Bộ đội Pháo binh cũng như nhiều ấn phẩm sách, báo khác về đề tài Toàn quốc kháng chiến, bức ảnh này được sử dụng khá nhiều và thường được chú thích là một khẩu đội ở Pháo đài Láng đang chuẩn bị bắn vào Thành Hà Nội, làm hiệu lệnh cho Toàn quốc kháng chiến.

 Một số hình ảnh mới được công bố gần đây cho thấy tấm hình này nằm trong một loạt ảnh được chụp bởi nhà nhiếp ảnh Nguyễn Bá Khoản, người đã có mặt và ghi lại nhiều hình ảnh quý giá về cuộc chiến đấu của Liên khu 2, Liên khu 3 cũng như mặt trận phía bắc Hà Nội. 








Những hình ảnh ở nhiều góc độ khác nhau này cho phép chúng ta nhận diện được khẩu pháo trong ảnh là phần bệ pháo tách ra từ xe phòng không Mle 1913 của quân đội Pháp trong tình trạng nguyên vẹn. Đây là phiên bản phòng không tự hành phát triển từ pháo 75mm Mle 1897 – một trong những loại pháo được quân đội Pháp sử dụng khá rộng rãi với nhiều biến thể pháo mặt đất, cao xạ, chống tăng, pháo bờ biển, pháo hạm, pháo xe tăng... Phiên bản phòng không Mle 1913 có trần bắn tối đa từ 5.500-6.000m, đặt trên khung xe tải De Dion-Bouton, được sản xuất với số lượng lớn và đã tham chiến trong cả hai cuộc chiến tranh thế giới.

Xe phòng không 75mm Mle 1913
Bệ pháo phòng không Mle 1913 khi tháo rời khỏi xe.

Các tài liệu Việt Nam cho biết, tính đến ngày 23-9-1945, các lực lượng vũ trang đã thu hồi được ở khu vực Hà Nội 15 khẩu pháo các loại, chủ yếu từ các trận địa phòng không ở các pháo đài Láng, Xuân Tảo, Bạch Mai... Sau khi tiến hành sửa chữa, dồn lắp thì 7 khẩu pháo cao xạ 75mm đã được khôi phục và trang bị cho bộ đội Pháo binh ở Hà Nội. Trên cơ sở này, Đoàn Pháo binh Thủ đô được thành lập ngày 29-6-1946 với ba trung đội đóng ở Láng, Xuân Tảo và Xuân Canh. Sau đó cuối tháng 9-1946 xây dựng thêm trung đội thứ tư ở Pháo đài Thủ khối (hay Thổ Khối) và đến tháng 11-1946 tổ chức thống nhất lại thành Đại đội Pháo binh Thủ đô do Phạm Văn Đôn làm Đại đội trưởng, Tô Na làm Chính trị viên.

Pháo đài Láng vốn là trận địa pháo cũ của Pháp được xây dựng ở khu vực Làng Láng Trung, được trang bị 2 khẩu pháo 75mm do Trung đội trưởng Nguyễn Ưng Gia và Chính trị viên Nguyễn Văn Khoát chỉ huy. Đây là trường hợp khá may mắn khi hiện vật pháo vẫn được lưu giữ lại cho đến ngày nay, cho phép xác định đây là những khẩu pháo hạm lưỡng dụng đối hải-đối không Kiểu 1922 của Pháp với tầm bắn 14.000m và trần phòng không hiệu quả lên tới 7.500m. Trong hồi ức về “Công trường trọng pháo”, ông Nguyễn Huy An – người từng trực tiếp sửa chữa những khẩu pháo này đưa ra mô tả khá khớp: “Pháo trên tàu hải quân của quân đội Pháp cũ. Nòng pháo dài 4m đã được xây lắp chặt trên một bệ xi măng cốt thép”. Pháo đài Láng được giao nhiệm vụ bắn vào Thành Hà Nội và đêm 19-12-1946 đã khai hỏa viên đạn đầu tiên mở màn cho Toàn quốc kháng chiến. Ngày 6-1-1947, quân Pháp đánh chiếm Giảng Võ, uy hiếp pháo đài. Ngày 10-1-1947, trung đội được lệnh bắn hết cơ số đạn còn lại và rút lên chiến khu.


Pháo 75mm Mle 1922/1924/1927

Pháo đài Láng trước khi được khôi phục

Hiện vật được lưu giữ tại pháo đài Láng

Một chi tiết cần lưu ý là hiện nay hầu hết nhân chứng và sách báo của Việt Nam vẫn ngộ nhận rằng pháo ở Pháo đài Láng do Đức chế tạo. Điều này có thể xuất phát từ việc nhà sản xuất ra những khẩu pháo - một công ty vũ khí nổi tiếng của Pháp lại mang một cái tên rất Đức: Schneider et Cie.

(Bảo tàng Cách mạng ở Hà Nội đang trưng bày một nòng pháo 75mm Mle 1897 với chú thích là trang bị của Pháo đài Láng. Điều này là không chính xác). 


Pháo đài Xuân Tảo cũng là trận địa pháo cũ của Pháp được xây dựng ở Xuân Tảo (Từ Liêm) trang bị hai khẩu pháo 75mm gắn trên bệ cố định, do Trung đội trưởng Trần Văn Uyên và Chính trị viên Nguyễn Hựu chỉ huy với nhiệm vụ pháo kích Trường Bưởi, Phủ Toàn quyền, Trường Albert Sarault... Mặc dù không có thêm thông tin chi tiết, nhưng dựa vào chi tiết nòng pháo dài 2m do ông Nguyễn Huy An cung cấp, hai khẩu pháo này có thể là phiên bản phòng không của pháo Mle 1897 với tầm bắn khoảng 8.000m.


Pháo 75mm Mle 1897 với bệ phòng không cố định Mle 1915, có thể là loại mà pháo đài Xuân Tảo sử dụng

Ngày 20-1-1947, quân Pháp tấn công ra khu vực Cầu Giấy, Nhật Tân và đánh chiếm Pháo đài Xuân Tảo ngày 22-1-1947, đến lượt trung đội này phải rút lui. Trong cả hai trường hợp, do pháo gắn cố định trên bệ không thể di chuyển nên cả hai trận địa ở Láng và Xuân Tảo đều chỉ có thể phá hoặc chôn giấu một số bộ phận quan trọng, còn lại phải bỏ pháo và rút người lên chiến khu tiếp tục xây dựng các đơn vị pháo binh khác.

Pháo đài Xuân Canh là trận địa mới xây dựng ở khu vực Xuân Canh (Đông Anh) do Trung đội trưởng Doãn Tuế và Chính trị viên Trương Thành Phao chỉ huy trang bị duy nhất một khẩu pháo cao xạ 75mm đặt trên xe vận tải của Pháp - cho thấy đây cũng là phiên bản phòng không Mle 1913. Khẩu pháo được phát hiện ở khu vực Bãi Phúc Xá trong tình trạng “nước sông Hồng dâng lên bồi lấp cát ngập cả 6 bánh xe”. Để tránh bị lính Trung Hoa Dân quốc phát hiện, người ta đã bí mật tháo gỡ những chi tiết quan trọng nhất trong đêm và chuyển đi bằng thuyền. Theo các cán bộ từng phụ trách pháo đài là Phạm Văn Đôn và Doãn Tuế, khi đưa về đơn vị, khẩu pháo chỉ còn lại nòng, cơ bẩm, máy hãm, một phần bệ và được lắp thêm một bộ càng mới để sử dụng.

Trung đội Xuân Canh đảm nhiệm mục tiêu Sân bay Gia Lâm và khu vực bắc Cầu Long Biên. Đây là đơn vị pháo binh duy nhất đưa được trang bị nguyên vẹn ra khỏi Hà Nội, di chuyển bằng thuyền lên Việt Trì. Trong Chiến dịch Việt Bắc 1947, khẩu pháo này đã cơ động chiến đấu, phối hợp với đơn vị bạn bắn chìm và bị thương bốn tàu đổ bộ ngày 24-10-1947.


Di tích pháo đài Xuân Tảo ngày nay

Di tích pháo đài Xuân Canh ngày nay

Hiện nay di tích Pháo đài Xuân Tảo và Xuân Canh đều trang trưng bày các tiêu bản pháo được phục dựng lại. Tuy nhiên đáng tiếc là những người phục dựng đã thực hiện không đúng với lịch sử khi sử dụng loại pháo Kiểu 1922 của Pháo đài Láng để làm mẫu.

Quá trình chi viện cho mặt trận Hà Nội còn có sự tham gia của một trung đội pháo binh của Chiến khu X do Vũ Quang Điện chỉ huy. Trung đội này được trang bị “sơn pháo” 75mm, bố trí ở khu vực ngã ba đê sông Đuống-quốc lộ 3 và đêm 24-1-1947 đã bí mật vận động vào cách sân bay Gia Lâm 400m để pháo kích vào sân bay, phá hỏng hai máy bay Spitfire. 

Có thể thấy khi mang khẩu đội pháo trong ảnh so sánh về kiểu loại thì đều không phù hợp với trang bị của Pháo đài Láng, Xuân Tảo (là loại gắn cố định trên bệ) và trung đội tăng cường (là sơn pháo có khả năng cơ động cao). Pháo đài Xuân Canh mặc dù cũng sử dụng pháo Mle 1913 tương tự nhưng ở trong tình trạng kém nguyên vẹn và chắp vá. Đồng thời việc có thể cơ động và chiến đấu ở địa hình rừng núi Việt Bắc cũng cho thấy khẩu pháo đã được cải biên lại ở dạng nhẹ hơn. 

Với việc loại trừ các phương án trên, chỉ còn lại một khả năng, đó là Pháo đài Thủ khối.

Pháo đài Thổ Khối ban đầu do ông Phạm Văn Đôn trực tiếp chỉ huy với hai khẩu pháo cao xạ 75mm chưa rõ kiểu loại, sau khi ông được điều về làm đại đội trưởng Đại đội Pháo binh Thủ đô thì pháo đài do Trung đội trưởng Nguyễn Uyên chỉ huy. 

Pháo đài Thổ Khối cũng là đơn vị pháo binh gặp trắc trở nhất ở mặt trận Hà Nội. Lúc đầu trận địa được bố trí ở Làng Thủ khối (Gia Lâm), tuy nhiên sau khi bị quân Pháp gây hấn và uy hiếp, pháo đài phải di chuyển để giữ bí mật, đầu tiên về Làng Khoan Tế và sau đó đến trước thời điểm 19-12-1946 thì đóng ở Làng Đào Xuyên (Gia Lâm), nhận nhiệm vụ bắn phá Sân bay Gia Lâm và Nhà máy khuy. Trong cuộc chiến đấu ngày 20-12-1946, máy bay Pháp đã ném bom phá hỏng một khẩu pháo của pháo đài. Khẩu pháo còn lại ngay đêm đó được chở bằng thuyền qua sông Hồng về bố trí ở Yên Duyên (Thanh Trì). Ngày 15-1-1947, quân Pháp chiếm Vĩnh Tuy, khẩu đội này phải kéo bằng tay rút về Hữu Lê (Hà Đông) và đến cuối tháng 2-1947 bị quân Pháp đánh chiếm khi đang bắn chặn địch trên trục Hà Nội-Hà Đông. 

Trong khi đó, khẩu pháo hỏng cũng được chở từ Đào Xuyên qua Sông Hồng và đưa về xưởng trọng pháo ở Làng Phượng Nghĩa (Quốc Oai) để sửa chữa, lắp ráp lại và tổ chức thành một trung đội chiến đấu mới do Trung đội trưởng Doãn Tuế chỉ huy. Tuy nhiên ngày 3-2-1947 quân Pháp nống ra đánh chiếm trận địa, đơn vị chỉ kịp đem giấu nòng pháo và một số chi tiết vào trong núi. Bệ pháo sau đó bị lính Pháp đặt mìn phá hủy. 

Như vậy, dựa vào những tấm ảnh trên, có thể tạm nhận định đây là một khẩu đội thuộc trung đội pháo binh đóng tại Pháo đài Thổ Khối (hay Pháo đài Đào Xuyên). Những bức ảnh này có lẽ đã được nhà nhiếp ảnh Nguyễn Bá Khoản chụp lại trước ngày 20-12-1946, hoặc chụp khẩu đội ở Yên Duyên (hoặc Hữu Lê) trong quá trình tác giả đang theo sát những diễn biến chiến đấu của mặt trận Liên khu 2 phía nam Hà Nội. Mặc dù không có thêm thông tin chi tiết hơn, vẫn có thể khẳng định đây không phải là ảnh chụp ở Pháo đài Láng như các sách báo lâu nay vẫn ghi nhận.

 

Tài liệu tham khảo: 


·                     Lịch sử Pháo binh Quân đội Nhân dân Việt Nam 1945-1954.

·                     Pháo binh Quân đội Nhân dân Việt Nam những chặng đường chiến đấu, Tập 1.

·                     Lịch sử Hậu cần-Kỹ thuật quân sự Việt Nam trong kháng chiến chống Thực dân Pháp 1945-1954.

·                     “Đơn vị pháo binh đầu tiên” – Phạm Văn Đôn.

·                     “Tiếng pháo bảo vệ Thủ đô ngày đầu kháng chiến” – Doãn Tuế.

·                     “Công trường trọng pháo” – Nguyễn Huy An.

Thứ Ba, 11 tháng 4, 2017

Hà Nội 1946 - Luận về thiệt hại đôi bên

Trước hết, có thể bắt đầu với thiệt hại của quân đội Pháp. Nhìn chung, các tài liệu từ phía Việt Nam đều đưa ra con số khá thống nhất: khoảng 2000 người, cộng với đó là 22 xe tăng và thiết giáp, 31 xe vận tải, 5 máy bay và 2 ca nô.

Nếu như số liệu về phương tiện khá là khó nhận định và kiểm chứng (ví dụ đơn giản nhất là trường hợp các xe hư hỏng được sửa chữa và đưa vào chiến đấu trở lại) thì thiệt hại về nhân mạng có vẻ dễ tiếp cận và đánh giá hơn. 

Cuốn 1000 năm Thăng Long – Hà Nội – Những hoạt động quân sự tiêu biểu (2002) đưa ra thiệt hại cho phía Pháp là 1800 bị diệt và 400 bị bắt. Đây là tài liệu duy nhất nhắc đến con số tù binh/tù nhân chiến tranh – rất tiếc, với một cách không chính xác. Nếu trừ đi một số không nhiều quân nhân và kiều dân có vũ trang, tuyệt đại đa số trong nhóm bị bắt ở trên là thường dân Pháp. Đây cũng là đề tài mà chính phủ Pháp tập trung sử dụng để công kích phía Việt Nam trên mặt trận tuyên truyền. 

Chi tiết nhất có lẽ là Luận án năm 1991 của Đại tá Trịnh Vương Hồng, nguyên Viện trưởng Viện Lịch sử quân sự với tên gọi Cuộc chiến đấu tại Hà Nội và một số thành phố thị xã bắc vĩ tuyến 16 hồi đầu kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp (19-12-1946 đến 15-3-1947). Trong phần nói về Hà Nội, tác giả đã trích dẫn số liệu thống kê kết quả của một loạt các trận đánh để đưa ra con số chung là 2011 người, cụ thể: 

- Đêm 19-12: 296 người. 

- Từ 20-12 đến 23-12 (giai đoạn tổng giao chiến trên toàn thành phố): 134 người. 

- Từ 24-12 đến 29-12 (chiến đấu trong nội thành): 111 người. 

- Từ 30-12 đến 14-2-1947 (chiến đấu trên các phòng tuyến ngoại thành): 1229 người. 

- Từ 6-1 đến 17-2-1947 (chiến đấu trong nội thành): 345 người. 

Mặc dù dẫn lại để tham khảo, chính bản thân tác giả cũng đánh giá rằng con số 2000 là phóng đại và là quá sức đối với tình hình trang bị cũng như trình độ chiến đấu của các lực lượng vũ trang Việt Nam khi đó. 

Về phía Pháp, truyền thông chính thức của họ chưa bao giờ đánh giá Hà Nội là một trận đánh quan trọng. Hầu hết cho rằng trận Hà Nội kết thúc vào khoảng ngày 22 cho đến 24-12-1946, sau khi quân Pháp đã tái chiếm toàn bộ các nhà máy và công sở quan trọng của thành phố. Tất nhiên đây lại là một thái cực khác của tuyên truyền – nếu theo dõi các báo chí phương Tây trong giai đoạn này, có thể thấy họ mô tả cuộc chiến ở “khu phố Hoa-Việt” – Liên khu 1 hoàn toàn trái ngược: quân Pháp phải chịu những “thiệt hại nghiêm trọng” để đạt được những “bước tiến chậm chạp”. 

Vì vô tình (hay cố ý) hạ thấp vai trò của trận đánh Hà Nội nên phía Pháp chưa bao giờ đưa ra số liệu tổng kết chính thức nào. Và chúng ta chỉ có thể dựa vào các mảnh ghép lẻ. 

Ho Chi Minh: A Life của A. Duiker đưa ra số liệu 100 lính Pháp và 40 kiều dân Pháp chết. Con số này thì lại quá thấp (và có lẽ là lạc hậu) nếu xem xét tới các thông tin khác. Tuy nhiên cũng có thể lý giải rằng đây chỉ là con số thống kê tính đến khoảng ngày 23, 24-12-1946. 

Ngày 22-12-1946, hãng tin AFP của Pháp đưa tin trong cuộc chiến đấu tại Hà Nội, quân đội Pháp đã có ít nhất 50 chết và 150 bị thương 

Ngày 31-12-1946, báo chí phương Tây tiếp tục dẫn nguồn tin từ Bộ chỉ huy Pháp cho biết con số thống kê ở thời điểm đó là “150 người Âu (European) thiệt mạng” ở Hà Nội. Nếu trừ đi con số thường dân thiệt mạng do chính họ công bố sau này là 30 đến 40 người, có thể tạm ước tính số quân nhân Pháp tử trận là 110 đến 120 người. 

Chúng ta không biết được số bị thương trong giai đoạn này, tuy nhiên nếu giả định tỉ lệ chết/bị thương ở mức tương đối thấp là 1/2 thì số tử trận trên sẽ đi kèm với tương đương khoảng 250 thương binh. Đây không phải là con số bất khả thi, trong Histoire de la guerre d'Indochine của Yves Gras, tác giả cho biết chỉ riêng một trận tấn công thất bại vào Liên khu 1 ngày 27-12-1946, quân Pháp đã có 15 chết và 40 bị thương (đây có lẽ là trận đánh ở khu vực đầu phố Hàng Trống, Hàng Đào, Cầu Gỗ - chiến tuyến phía nam của Liên khu 1).

Một thông cáo báo chí khác, đưa ra ngày 3-1-1947 cho biết tổn thất của quân Pháp ở Bắc Đông Dương là 183 chết, 396 bị thương và 28 mất tích. Lưu ý rằng ở đây thống kê này không nhắc đến 43 lính Pháp đầu hàng và bị bắt ở Vinh (mà ở thời điểm đó Bộ Chỉ huy Pháp đã biết rõ). Ngoài ra con số mất tích rất khớp với số lính Pháp bị tiêu diệt và bị bắt ở Hải Dương. Như vậy có thể nhận định số liệu này có lẽ mới chỉ bao gồm thương vong ở khu vực từ Nam Định trở ra (về mặt hành chính của Pháp thì Bắc Kỳ cũng tương đương như vậy). Nó cũng cho thấy thương vong của Pháp ở Hà Nội tính đến thời điểm đó không thể vượt quá 400-500 người.
 

Một vài trận đánh đơn lẻ ở Hà Nội cũng được thống kê, ví dụ: 

Arme Blindee et Cavaliers en Indochine 1945-1955 (1998) viết về lực lượng thiết giáp Pháp ở Đông Dương cho biết trong cuộc hành quân Vĩnh Tuy ngày 15 và 16-1-1947 thì quân Pháp có 7 chết và 31 bị thươngBérets Rouges en Indochine: La demi brigade SAS Février 1946 - Juin 1948 (1987) viết về đơn vị biệt kích dù (lính “mũ đỏ”) từng tham chiến ở Hà Nội thì cho biết trong trận này quân dù có 7 chết và 18 bị thương. Điều này đặt ra nghi vấn về tính chính xác của con số 7+31 ở trên. Chúng ta cần lưu ý rằng cuộc hành quân 15-1-1947 là 1 trận đánh khá lớn, quân Pháp đã tập trung hầu hết lực lượng cả bộ binh cơ giới, thiết giáp, biệt kích dù để tiến công phòng tuyến phía nam của mặt trận Hà Nội. Ở đây có những điểm nóng đã xảy ra giao tranh rất ác liệt như Vĩnh Tuy, Quỳnh Lôi... đặc biệt là Bệnh viện Bạch Mai và Việt Nam Học xá là các điểm chốt Việt Nam bố trí lực lượng có quân số và hỏa lực khá mạnh, và bản thân phía Việt Nam cũng chịu tổn thất khá nặng khi quyết tử giữ các vị trí này. Sẽ rất khó hình dung một trận đánh quy mô như vậy mà bộ binh, thiết giáp Pháp chỉ có thêm hơn chục người bị thương và thậm chí không chết ai (?!). Tuy nhiên khi chưa có sự xác thực nào khác thì ta tạm thời sử dụng số liệu này.

Bérets Rouges en Indochine: trận Cầu Giấy ngày 20-1-1947, riêng quân dù Pháp có 1 chết.

Bérets Rouges en Indochine: trận Khách sạn Hoa Nam (phố Hàng Giấy) ngày 23-1-1947,  riêng quân dù Pháp có 2 chết và 3 bị thương. 

Histoire de la guerre d'Indochine và Bérets Rouges en Indochine: trận Đồng Xuân ngày 14-2-1947, quân Pháp có 10 chết và 20 bị thương, trong số tử trận có 6 lính dù. 

Các tài liệu Việt Nam thường dẫn lại 1 bài báo được cho là của phóng viên AFP viết về mặt trận Hà Nội, trong đó cho biết chỉ riêng 2 đơn vị Pháp đóng ở khu vực Nhà thờ lớn và Hàng Lọng đã có số tử trận lần lượt là 35 và 42. Nếu con số này là chính xác, chúng ta có thể hình dung phần nào mức độ tiêu hao mà cuộc chiến ở Hà Nội gây ra cho quân Pháp. Tuy nhiên khi chưa thể xác minh được sự tồn tại của phóng sự này thì ta chưa thể sử dụng các số liệu đó. 

Như vậy, các số liệu có thể xác nhận được cho thấy quân Pháp mất ở Hà Nội không dưới 150 chết và 300 bị thương. Tất nhiên con số thực phải cao hơn nhiều, do còn quá nhiều trận đánh chưa được thống kê, điển hình là những trận đánh ở phòng tuyến của Liên khu 2 và Liên khu 3 trong nửa đầu tháng 1-1947, của Liên khu 1 cuối tháng 1 và đầu tháng 2-1947 – đều có quy mô lớn và ác liệt. Ngoài ra đó là chưa kể tới các tiêu hao gây ra bởi các hoạt động du kích nhỏ lẻ, chẳng hạn báo chí phương Tây cho biết ngày 3-1-1947, khi Bộ trưởng Hải ngoại Pháp Moutet trực tiếp đi thị sát mặt trận Hà Nội, 2 lính Pháp trong đội hộ tống đã bị quân Việt Nam bắn tỉa chết chỉ cách nơi ông ta đứng chừng 30m. 

Ngày 9-2-1947, thông qua báo chí, Bộ chỉ huy quân đội Pháp đưa ra thông cáo quan trọng, trong đó họ ghi nhận kể từ ngày 19-12-1946 cho đến thời điểm đó đã tổn thất 1852 chết, bị thương, mất tích ở tất cả các mặt trận trên toàn Đông Dương (để so sánh thì cũng thời điểm đó, con số thiệt hại do truyền thông của phía Việt Nam đưa ra là phía Pháp - 3000 người và phía Việt Nam - 1500 người). Một lần nữa ta cố gắng dựa vào các mảnh ghép do người Pháp cung cấp, chủ yếu từ L'épopée de la 9e division d'Infanterie Coloniale (1985) – ghi lại hoạt động của các đơn vị thuộc Sư đoàn Bộ binh thuộc địa số 9 đồn trú ở Bắc Bộ trong thời điểm tháng 12-1946: 

- Hải Dương: ít nhất khoảng 100 thương vong trong quá trình giải tỏa thị xã. Ngoài ra các tài liệu Việt Nam cũng ghi nhận khá rõ việc trung đội lính Pháp 24 người đóng ở trường Nữ sinh bị bắt làm tù binh, chưa kể một số thương vong khác ở khu vực cầu Phú Lương. 

- Vinh: 43 lính bộ binh và không quân Pháp bị bắt làm tù binh. 

- Nam Định: tiểu đoàn Pháp đồn trú có ̣khoảng 150 thương vong (chiếm 1/3 quân số), ngoài ra chỉ riêng các trận đánh ngày 6-1 và 9-1-1947, các đơn vị giải vây đã tổn thất thêm khoảng 80 người. 

- Huế: tiểu đoàn Pháp đồn trú có khoảng 180 thương vong, chưa kể tới tổn thất của các đơn vị giải tỏa đánh từ Đà Nẵng lên. 

- Bắc Ninh và Bắc Giang: chỉ riêng quân giải tỏa từ Hà Nội lên đã có khoảng ít nhất 30 thương vong, chưa kể tới thiệt hại của đơn vị đồn trú. 

Rất tiếc là số mảnh ghép còn thiếu quá nhiều: Hải Phòng-đường 5, Lạng Sơn-Tiên Yên, Tây Bắc, Đà Nẵng, Nam Trung Bộ và Nam Bộ, Lào và Campuchia.... Tuy nhiên cũng có thể dựa vào đó để phỏng đoán rằng thiệt hại của quân Pháp ở Hà Nội khó có thể vượt quá 1.000 người. 

Ở trên ta đã chỉ xét tới quân đội chính quy Pháp. Trong thực tế tham chiến về phía họ còn có cả các thành phần phi chính quy thân Pháp gồm người Pháp (kiều dân), người Việt Nam (“Việt gian”) và người Trung Quốc (“thổ phỉ”). Các tài liệu Pháp cho biết các cuộc tấn công trong đêm 19-12-1946 làm cho 30-40 kiều dân Pháp thiệt mạng (bao gồm 11 phụ nữ). Sau đó, Tướng Morliere – Tư lệnh Bắc Bộ đã ký lệnh tổng động viên các kiều dân Pháp là đàn ông có sức khỏe để lập ra các đội vũ trang phối hợp với lính Pháp tuần tra, càn quét các khu phố chiếm được. Đối với các thành phần người Việt hay Hoa, đa số các tài liệu Việt Nam sau này ghi nhận sự tham gia của nhóm này (đặc biệt là “Việt gian”) dưới vai trò dẫn đường, bắn tỉa, biệt kích... và đôi khi là lực lượng trực tiếp chiến đấu: trận đánh ở Việt Nam học xá ngày 16-1-1947 ghi nhận có ít nhất 1 trung đội “Việt gian” tham gia tấn công trong đợt đầu, hoặc ở ngã tư Trung Hiền ngày 15-1-1947, quân Pháp đã sử dụng một số đơn vị “Việt gian” mặc giả quân phục bộ đội hoặc công an Việt Nam để đánh vu hồi tập kích từ phía sau. Chúng ta không rõ số thiệt hại của các thành phần phi chính quy này, tuy nhiên một số liệu từ Liên khu 2 – Những ngày đầu thủ đô kháng chiến (1996) cho thấy có lẽ con số là không hề nhỏ. Theo đó, sau khi bộ đội và tự vệ Liên khu 2 đã ổn định xong thế trận, tổ chức và tập trung huy động lực lượng truy lùng các nhóm biệt kích “Việt gian” xâm nhập vào phía sau phòng tuyến thì chỉ trong hai ngày 27 và 28-12-1946, họ đã bắt được khoảng 60 tù binh – tất cả đều được vũ trang bằng súng trường bán tự động M1 Carbine và súng ngắn M1911.

 Vậy còn thương vong của phía Việt Nam? Luận án của Trịnh Vương Hồng dẫn lại con số thống kê là 810 người, bao gồm 576 hy sinh và 234 bị thương. Tuy nhiên đây là con số không đầy đủ khi không thống kê được hết các trận đánh ở Liên khu 1 trong thời gian cuối tháng 1 đến đầu tháng 2-1947. Cuốn Hà Nội mở đầu Toàn quốc kháng chiến: Tầm vóc và ý nghĩa (2006) đưa ra con số: khoảng 800 hy sinh, trong đó riêng Trung đoàn Thủ đô là 160 người. Dĩ nhiên, do đặc thù của cuộc chiến đấu - mà điển hình nhất là tính chất tổ chức của các đơn vị vũ trang không thống nhất và ổn định, cũng như trình độ, năng lực về thống kê, lưu trữ còn hạn chế ở thời điểm đó thì tất cả những số liệu này chỉ có độ chính xác tương đối.




Ảnh: quân Pháp ở Hà Nội tháng 12-1946 với quân phục và vũ khí do Mỹ trang bị. Lưu ý người bên phải mặc áo vest kiểu dân sự và đeo băng tay cờ tam tài. Điều này cho thấy đây có thể là một thành viên “tự vệ” của Pháp kiều, cùng tham gia chiến đấu với quân chính quy.