Trước hết, có thể bắt đầu với
thiệt hại của quân đội Pháp. Nhìn chung, các tài liệu từ phía Việt
Nam đều đưa ra con số khá thống nhất: khoảng 2000 người,
cộng với đó là 22 xe tăng và thiết giáp, 31 xe vận tải, 5 máy bay và
2 ca nô.
Nếu như số liệu về phương tiện
khá là khó nhận định và kiểm chứng (ví dụ đơn giản nhất là trường
hợp các xe hư hỏng được sửa chữa và đưa vào chiến đấu trở lại) thì
thiệt hại về nhân mạng có vẻ dễ tiếp cận và đánh giá hơn.
Cuốn 1000 năm Thăng Long –
Hà Nội – Những hoạt động quân sự tiêu biểu (2002) đưa ra thiệt
hại cho phía Pháp là 1800 bị diệt và 400 bị bắt. Đây là
tài liệu duy nhất nhắc đến con số tù binh/tù nhân chiến tranh – rất tiếc,
với một cách không chính xác. Nếu trừ đi một số không nhiều quân nhân
và kiều dân có vũ trang, tuyệt đại đa số trong nhóm bị bắt ở trên
là thường dân Pháp. Đây cũng là đề tài mà chính phủ Pháp tập trung
sử dụng để công kích phía Việt Nam trên mặt trận tuyên truyền.
Chi tiết nhất có lẽ là Luận án
năm 1991 của Đại tá Trịnh Vương Hồng, nguyên Viện trưởng Viện Lịch sử
quân sự với tên gọi Cuộc chiến đấu tại Hà Nội và một số thành phố
thị xã bắc vĩ tuyến 16 hồi đầu kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp
(19-12-1946 đến 15-3-1947). Trong phần nói về Hà Nội, tác giả
đã trích dẫn số liệu thống kê kết quả của một loạt các trận đánh
để đưa ra con số chung là 2011 người, cụ thể:
- Đêm 19-12: 296 người.
- Từ 20-12 đến 23-12 (giai đoạn
tổng giao chiến trên toàn thành phố): 134 người.
- Từ 24-12 đến 29-12 (chiến đấu
trong nội thành): 111 người.
- Từ 30-12 đến 14-2-1947 (chiến
đấu trên các phòng tuyến ngoại thành): 1229 người.
- Từ 6-1 đến 17-2-1947 (chiến đấu
trong nội thành): 345 người.
Mặc dù dẫn lại để tham khảo,
chính bản thân tác giả cũng đánh giá rằng con số 2000 là phóng đại
và là quá sức đối với tình hình trang bị cũng như trình độ chiến
đấu của các lực lượng vũ trang Việt Nam khi đó.
Về phía Pháp, truyền thông chính
thức của họ chưa bao giờ đánh giá Hà Nội là một trận đánh quan
trọng. Hầu hết cho rằng trận Hà Nội kết thúc vào khoảng ngày 22 cho
đến 24-12-1946, sau khi quân Pháp đã tái chiếm toàn bộ các nhà máy
và công sở quan trọng của thành phố. Tất nhiên đây lại là một thái
cực khác của tuyên truyền – nếu theo dõi các báo chí phương Tây trong
giai đoạn này, có thể thấy họ mô tả cuộc chiến ở “khu phố Hoa-Việt”
– Liên khu 1 hoàn toàn trái ngược: quân Pháp phải chịu những “thiệt
hại nghiêm trọng” để đạt được những “bước tiến chậm chạp”.
Vì vô tình (hay cố ý) hạ thấp
vai trò của trận đánh Hà Nội nên phía Pháp chưa bao giờ đưa ra số
liệu tổng kết chính thức nào. Và chúng ta chỉ có thể dựa vào các
mảnh ghép lẻ.
Ho Chi Minh: A Life của A.
Duiker đưa ra số liệu 100 lính Pháp và 40 kiều dân Pháp chết.
Con số này thì lại quá thấp (và có lẽ là lạc hậu) nếu xem xét
tới các thông tin khác. Tuy nhiên cũng có thể lý giải rằng đây chỉ
là con số thống kê tính đến khoảng ngày 23, 24-12-1946.
Ngày 22-12-1946, hãng tin AFP của
Pháp đưa tin trong cuộc chiến đấu tại Hà Nội, quân đội Pháp đã có ít
nhất 50 chết và 150 bị thương.
Ngày 31-12-1946, báo chí phương
Tây tiếp tục dẫn nguồn tin từ Bộ chỉ huy Pháp cho biết con số thống
kê ở thời điểm đó là “150 người Âu (European) thiệt mạng” ở Hà
Nội. Nếu trừ đi con số thường dân thiệt mạng do chính họ công bố sau
này là 30 đến 40 người, có thể tạm ước tính số quân nhân Pháp tử
trận là 110 đến 120 người.
Chúng ta không biết được số bị
thương trong giai đoạn này, tuy nhiên nếu giả định tỉ lệ chết/bị
thương ở mức tương đối thấp là 1/2 thì số tử trận trên sẽ đi kèm
với tương đương khoảng 250 thương binh. Đây không phải là con số bất khả
thi, trong Histoire de la guerre d'Indochine của Yves Gras,
tác giả cho biết chỉ riêng một trận tấn công thất bại vào Liên khu 1
ngày 27-12-1946, quân Pháp đã có 15 chết và 40 bị thương (đây
có lẽ là trận đánh ở khu vực đầu phố Hàng Trống, Hàng Đào, Cầu
Gỗ - chiến tuyến phía nam của Liên khu 1).
Một thông cáo báo chí khác, đưa ra ngày 3-1-1947 cho biết tổn thất
của quân Pháp ở Bắc Đông Dương là 183 chết, 396 bị thương và 28
mất tích. Lưu ý rằng ở đây thống kê này không nhắc đến 43 lính
Pháp đầu hàng và bị bắt ở Vinh (mà ở thời điểm đó Bộ Chỉ huy
Pháp đã biết rõ). Ngoài ra con số mất tích rất khớp với số lính
Pháp bị tiêu diệt và bị bắt ở Hải Dương. Như vậy có thể nhận định
số liệu này có lẽ mới chỉ bao gồm thương vong ở khu vực từ Nam Định
trở ra (về mặt hành chính của Pháp thì Bắc Kỳ cũng tương đương như
vậy). Nó cũng cho thấy thương vong của Pháp ở Hà Nội tính đến thời
điểm đó không thể vượt quá 400-500 người.
Một vài trận đánh đơn lẻ ở Hà
Nội cũng được thống kê, ví dụ:
- Arme Blindee et Cavaliers
en Indochine 1945-1955 (1998) viết về lực lượng thiết giáp Pháp
ở Đông Dương cho biết trong cuộc hành quân Vĩnh Tuy ngày 15 và 16-1-1947
thì quân Pháp có 7 chết và 31 bị thương. Bérets
Rouges en Indochine: La demi brigade SAS Février 1946 - Juin 1948 (1987)
viết về đơn vị biệt kích dù (lính “mũ đỏ”) từng tham chiến ở Hà
Nội thì cho biết trong trận này quân dù có 7 chết và 18 bị
thương. Điều này đặt ra nghi vấn về tính chính xác của con số
7+31 ở trên. Chúng ta cần lưu ý rằng cuộc hành quân 15-1-1947 là 1
trận đánh khá lớn, quân Pháp đã tập trung hầu hết lực lượng cả bộ
binh cơ giới, thiết giáp, biệt kích dù để tiến công phòng tuyến phía
nam của mặt trận Hà Nội. Ở đây có những điểm nóng đã xảy ra giao
tranh rất ác liệt như Vĩnh Tuy, Quỳnh Lôi... đặc biệt là Bệnh viện
Bạch Mai và Việt Nam Học xá là các điểm chốt Việt Nam bố trí lực
lượng có quân số và hỏa lực khá mạnh, và bản thân phía Việt Nam
cũng chịu tổn thất khá nặng khi quyết tử giữ các vị trí này. Sẽ rất
khó hình dung một trận đánh quy mô như vậy mà bộ binh, thiết giáp
Pháp chỉ có thêm hơn chục người bị thương và thậm chí không chết ai
(?!). Tuy nhiên khi chưa có sự xác thực nào khác thì ta tạm thời sử
dụng số liệu này.
- Bérets Rouges en Indochine: trận Cầu Giấy
ngày 20-1-1947, riêng quân dù Pháp có 1 chết.
- Bérets Rouges en Indochine:
trận Khách sạn Hoa Nam (phố Hàng Giấy) ngày 23-1-1947, riêng quân
dù Pháp có 2 chết và 3 bị thương.
- Histoire de la guerre
d'Indochine và Bérets Rouges en Indochine: trận Đồng
Xuân ngày 14-2-1947, quân Pháp có 10 chết và 20 bị thương,
trong số tử trận có 6 lính dù.
Các tài liệu Việt Nam thường
dẫn lại 1 bài báo được cho là của phóng viên AFP viết về mặt trận
Hà Nội, trong đó cho biết chỉ riêng 2 đơn vị Pháp đóng ở khu vực Nhà
thờ lớn và Hàng Lọng đã có số tử trận lần lượt là 35 và 42. Nếu
con số này là chính xác, chúng ta có thể hình dung phần nào mức độ
tiêu hao mà cuộc chiến ở Hà Nội gây ra cho quân Pháp. Tuy nhiên khi chưa
thể xác minh được sự tồn tại của phóng sự này thì ta chưa thể sử dụng
các số liệu đó.
Như vậy, các số liệu có thể
xác nhận được cho thấy quân Pháp mất ở Hà Nội không dưới 150
chết và 300 bị thương. Tất nhiên con số thực phải cao hơn nhiều, do
còn quá nhiều trận đánh chưa được thống kê, điển hình là những trận
đánh ở phòng tuyến của Liên khu 2 và Liên khu 3 trong nửa đầu tháng
1-1947, của Liên khu 1 cuối tháng 1 và đầu tháng 2-1947 – đều có quy mô
lớn và ác liệt. Ngoài ra đó là chưa kể tới các tiêu hao gây ra bởi
các hoạt động du kích nhỏ lẻ, chẳng hạn báo chí phương Tây cho biết
ngày 3-1-1947, khi Bộ trưởng Hải ngoại Pháp Moutet trực tiếp đi thị
sát mặt trận Hà Nội, 2 lính Pháp trong đội hộ tống đã bị quân Việt
Nam bắn tỉa chết chỉ cách nơi ông ta đứng chừng 30m.
Ngày 9-2-1947, thông qua báo chí,
Bộ chỉ huy quân đội Pháp đưa ra thông cáo quan trọng, trong đó họ ghi
nhận kể từ ngày 19-12-1946 cho đến thời điểm đó đã tổn thất 1852
chết, bị thương, mất tích ở tất cả các mặt trận trên toàn Đông Dương (để
so sánh thì cũng thời điểm đó, con số thiệt hại do truyền thông của
phía Việt Nam đưa ra là phía Pháp - 3000 người và phía Việt Nam - 1500
người). Một lần nữa ta cố gắng dựa vào các mảnh ghép do người Pháp
cung cấp, chủ yếu từ L'épopée de la 9e division d'Infanterie
Coloniale (1985) – ghi lại hoạt động của các đơn vị thuộc Sư
đoàn Bộ binh thuộc địa số 9 đồn trú ở Bắc Bộ trong thời điểm tháng
12-1946:
- Hải Dương: ít nhất khoảng 100
thương vong trong quá trình giải tỏa thị xã. Ngoài ra các tài liệu
Việt Nam cũng ghi nhận khá rõ việc trung đội lính Pháp 24 người đóng
ở trường Nữ sinh bị bắt làm tù binh, chưa kể một số thương vong khác
ở khu vực cầu Phú Lương.
- Vinh: 43 lính bộ binh và không
quân Pháp bị bắt làm tù binh.
- Nam Định: tiểu đoàn Pháp đồn
trú có ̣khoảng 150 thương vong (chiếm 1/3 quân số), ngoài ra chỉ riêng
các trận đánh ngày 6-1 và 9-1-1947, các đơn vị giải vây đã tổn thất
thêm khoảng 80 người.
- Huế: tiểu đoàn Pháp đồn trú
có khoảng 180 thương vong, chưa kể tới tổn thất của các đơn vị giải
tỏa đánh từ Đà Nẵng lên.
- Bắc Ninh và Bắc Giang: chỉ
riêng quân giải tỏa từ Hà Nội lên đã có khoảng ít nhất 30 thương
vong, chưa kể tới thiệt hại của đơn vị đồn trú.
Rất tiếc là số mảnh ghép còn
thiếu quá nhiều: Hải Phòng-đường 5, Lạng Sơn-Tiên Yên, Tây Bắc, Đà
Nẵng, Nam Trung Bộ và Nam Bộ, Lào và Campuchia.... Tuy nhiên cũng có
thể dựa vào đó để phỏng đoán rằng thiệt hại của quân Pháp ở Hà
Nội khó có thể vượt quá 1.000 người.
Ở trên ta đã chỉ xét tới quân
đội chính quy Pháp. Trong thực tế tham chiến về phía họ còn có cả
các thành phần phi chính quy thân Pháp gồm người Pháp (kiều dân),
người Việt Nam (“Việt gian”) và người Trung Quốc (“thổ phỉ”). Các tài
liệu Pháp cho biết các cuộc tấn công trong đêm 19-12-1946 làm cho 30-40
kiều dân Pháp thiệt mạng (bao gồm 11 phụ nữ). Sau đó, Tướng
Morliere – Tư lệnh Bắc Bộ đã ký lệnh tổng động viên các kiều dân
Pháp là đàn ông có sức khỏe để lập ra các đội vũ trang phối hợp
với lính Pháp tuần tra, càn quét các khu phố chiếm được. Đối với
các thành phần người Việt hay Hoa, đa số các tài liệu Việt Nam sau
này ghi nhận sự tham gia của nhóm này (đặc biệt là “Việt gian”) dưới
vai trò dẫn đường, bắn tỉa, biệt kích... và đôi khi là lực lượng
trực tiếp chiến đấu: trận đánh ở Việt Nam học xá ngày 16-1-1947 ghi
nhận có ít nhất 1 trung đội “Việt gian” tham gia tấn công trong đợt
đầu, hoặc ở ngã tư Trung Hiền ngày 15-1-1947, quân Pháp đã sử dụng
một số đơn vị “Việt gian” mặc giả quân phục bộ đội hoặc công an Việt
Nam để đánh vu hồi tập kích từ phía sau. Chúng ta không rõ số thiệt
hại của các thành phần phi chính quy này, tuy nhiên một số liệu từ Liên
khu 2 – Những ngày đầu thủ đô kháng chiến (1996) cho thấy có
lẽ con số là không hề nhỏ. Theo đó, sau khi bộ đội và tự vệ Liên khu
2 đã ổn định xong thế trận, tổ chức và tập trung huy động lực lượng
truy lùng các nhóm biệt kích “Việt gian” xâm nhập vào phía sau phòng
tuyến thì chỉ trong hai ngày 27 và 28-12-1946, họ đã bắt được khoảng 60
tù binh – tất cả đều được vũ trang bằng súng trường bán tự
động M1 Carbine và súng ngắn M1911.
Vậy còn thương vong của phía
Việt Nam? Luận án của Trịnh Vương Hồng dẫn lại con số thống kê là 810
người, bao gồm 576 hy sinh và 234 bị thương. Tuy nhiên đây là con số
không đầy đủ khi không thống kê được hết các trận đánh ở Liên khu 1
trong thời gian cuối tháng 1 đến đầu tháng 2-1947. Cuốn Hà Nội
mở đầu Toàn quốc kháng chiến: Tầm vóc và ý nghĩa (2006) đưa
ra con số: khoảng 800 hy sinh, trong đó riêng Trung đoàn Thủ đô
là 160 người. Dĩ nhiên, do đặc thù của cuộc chiến đấu - mà điển
hình nhất là tính chất tổ chức của các đơn vị vũ trang không thống
nhất và ổn định, cũng như trình độ, năng lực về thống kê, lưu trữ
còn hạn chế ở thời điểm đó thì tất cả những số liệu này chỉ có
độ chính xác tương đối.