Trên đây là một bức ảnh đã trở nên khá nổi tiếng về
giai đoạn kháng chiến chống Pháp, chụp lại cảnh các chiến sĩ pháo
binh Việt Nam đang chuẩn bị chiến đấu ở mặt trận Hà Nội trong 60
ngày đêm bảo vệ Thủ đô (tháng 12-1946 tới tháng 2-1947). Trong cuốn
chính sử của Bộ đội Pháo binh cũng như nhiều ấn phẩm sách, báo
khác về đề tài Toàn quốc kháng chiến, bức ảnh này được sử dụng
khá nhiều và thường được chú thích là một khẩu đội ở Pháo đài
Láng đang chuẩn bị bắn vào Thành Hà Nội, làm hiệu lệnh cho Toàn
quốc kháng chiến.
Một số hình ảnh mới được công bố gần đây cho thấy tấm hình này nằm trong một loạt ảnh được chụp bởi nhà nhiếp ảnh Nguyễn Bá Khoản, người đã có mặt và ghi lại nhiều hình ảnh quý giá về cuộc chiến đấu của Liên khu 2, Liên khu 3 cũng như mặt trận phía bắc Hà Nội.
![]() |
| Xe phòng không 75mm Mle 1913 |
Các tài liệu Việt Nam
cho biết, tính đến ngày 23-9-1945, các lực lượng vũ trang đã thu hồi
được ở khu vực Hà Nội 15 khẩu pháo các loại, chủ yếu từ các trận
địa phòng không ở các pháo đài Láng, Xuân Tảo, Bạch Mai... Sau khi
tiến hành sửa chữa, dồn lắp thì 7 khẩu pháo cao xạ 75mm đã được
khôi phục và trang bị cho bộ đội Pháo binh ở Hà Nội. Trên cơ sở này,
Đoàn Pháo binh Thủ đô được thành lập ngày 29-6-1946 với ba trung đội
đóng ở Láng, Xuân Tảo và Xuân Canh. Sau đó cuối tháng 9-1946 xây dựng
thêm trung đội thứ tư ở Pháo đài Thủ khối (hay Thổ Khối) và đến
tháng 11-1946 tổ chức thống nhất lại thành Đại đội Pháo binh Thủ đô
do Phạm Văn Đôn làm Đại đội trưởng, Tô Na làm Chính trị viên.
Pháo đài Láng vốn là trận địa pháo cũ của
Pháp được xây dựng ở khu vực Làng Láng Trung, được trang bị 2
khẩu pháo 75mm do Trung đội trưởng Nguyễn Ưng Gia và Chính trị
viên Nguyễn Văn Khoát chỉ huy. Đây là trường hợp khá may mắn khi hiện
vật pháo vẫn được lưu giữ lại cho đến ngày nay, cho phép xác định
đây là những khẩu pháo hạm lưỡng dụng đối hải-đối không Kiểu 1922
của Pháp với tầm bắn 14.000m và trần phòng không hiệu quả lên tới
7.500m. Trong hồi ức về “Công trường trọng pháo”, ông Nguyễn Huy An –
người từng trực tiếp sửa chữa những khẩu pháo này đưa ra mô tả khá
khớp: “Pháo trên tàu hải quân của quân đội Pháp cũ. Nòng pháo dài
4m đã được xây lắp chặt trên một bệ xi măng cốt thép”. Pháo đài Láng
được giao nhiệm vụ bắn vào Thành Hà Nội và đêm 19-12-1946 đã khai
hỏa viên đạn đầu tiên mở màn cho Toàn quốc kháng chiến. Ngày
6-1-1947, quân Pháp đánh chiếm Giảng Võ, uy hiếp pháo đài. Ngày
10-1-1947, trung đội được lệnh bắn hết cơ số đạn còn lại và rút lên
chiến khu.
![]() |
| Pháo 75mm Mle 1922/1924/1927 Pháo đài Láng trước khi được khôi phục |
![]() |
| Hiện vật được lưu giữ tại pháo đài Láng |
Một chi tiết cần lưu ý là hiện nay hầu hết nhân chứng
và sách báo của Việt Nam vẫn ngộ nhận rằng pháo ở Pháo đài Láng
do Đức chế tạo. Điều này có thể xuất phát từ việc nhà sản xuất ra
những khẩu pháo - một công ty vũ khí nổi tiếng của Pháp lại mang
một cái tên rất Đức: Schneider et Cie.
(Bảo tàng Cách mạng ở Hà Nội đang trưng bày một nòng pháo 75mm Mle
1897 với chú thích là trang bị của Pháo đài Láng. Điều này là không
chính xác).
| Pháo 75mm Mle 1897 với bệ phòng không cố định Mle 1915, có thể là loại mà pháo đài Xuân Tảo sử dụng |
Ngày 20-1-1947, quân
Pháp tấn công ra khu vực Cầu Giấy, Nhật Tân và đánh chiếm Pháo đài
Xuân Tảo ngày 22-1-1947, đến lượt trung đội này phải rút lui. Trong cả
hai trường hợp, do pháo gắn cố định trên bệ không thể di chuyển nên
cả hai trận địa ở Láng và Xuân Tảo đều chỉ có thể phá hoặc chôn giấu
một số bộ phận quan trọng, còn lại phải bỏ pháo và rút người lên
chiến khu tiếp tục xây dựng các đơn vị pháo binh khác.
Pháo đài Xuân Canh là trận địa mới xây dựng ở khu vực
Xuân Canh (Đông Anh) do Trung đội trưởng Doãn Tuế và Chính trị viên
Trương Thành Phao chỉ huy trang bị duy nhất một khẩu pháo cao xạ 75mm
đặt trên xe vận tải của Pháp - cho thấy đây cũng là phiên bản phòng
không Mle 1913. Khẩu pháo được phát hiện ở khu vực Bãi Phúc Xá trong
tình trạng “nước sông Hồng dâng lên bồi lấp cát ngập cả 6 bánh xe”.
Để tránh bị lính Trung Hoa Dân quốc phát hiện, người ta đã bí mật
tháo gỡ những chi tiết quan trọng nhất trong đêm và chuyển đi bằng
thuyền. Theo các cán bộ từng phụ trách pháo đài là Phạm Văn Đôn và
Doãn Tuế, khi đưa về đơn vị, khẩu pháo chỉ còn lại nòng, cơ bẩm,
máy hãm, một phần bệ và được lắp thêm một bộ càng mới để sử
dụng.
Trung đội Xuân Canh đảm nhiệm mục tiêu Sân bay Gia Lâm và khu vực bắc Cầu Long Biên. Đây là đơn vị pháo binh duy nhất đưa được trang bị nguyên vẹn ra khỏi Hà Nội, di chuyển bằng thuyền lên Việt Trì. Trong Chiến dịch Việt Bắc 1947, khẩu pháo này đã cơ động chiến đấu, phối hợp với đơn vị bạn bắn chìm và bị thương bốn tàu đổ bộ ngày 24-10-1947.
![]() |
| Di tích pháo đài Xuân Tảo ngày nay |
![]() |
| Di tích pháo đài Xuân Canh ngày nay |
Hiện nay di tích Pháo đài Xuân Tảo và Xuân Canh đều trang
trưng bày các tiêu bản pháo được phục dựng lại. Tuy nhiên đáng tiếc
là những người phục dựng đã thực hiện không đúng với lịch sử khi
sử dụng loại pháo Kiểu 1922 của Pháo đài Láng để làm mẫu.
Quá trình chi viện cho mặt trận Hà Nội còn có sự tham gia của một trung đội pháo binh của Chiến khu X do Vũ Quang Điện chỉ huy. Trung đội này được trang bị “sơn pháo” 75mm, bố trí ở khu vực ngã ba đê sông Đuống-quốc lộ 3 và đêm 24-1-1947 đã bí mật vận động vào cách sân bay Gia Lâm 400m để pháo kích vào sân bay, phá hỏng hai máy bay Spitfire.
Có thể thấy khi mang khẩu đội pháo trong ảnh so sánh về kiểu loại thì đều không phù hợp với trang bị của Pháo đài Láng, Xuân Tảo (là loại gắn cố định trên bệ) và trung đội tăng cường (là sơn pháo có khả năng cơ động cao). Pháo đài Xuân Canh mặc dù cũng sử dụng pháo Mle 1913 tương tự nhưng ở trong tình trạng kém nguyên vẹn và chắp vá. Đồng thời việc có thể cơ động và chiến đấu ở địa hình rừng núi Việt Bắc cũng cho thấy khẩu pháo đã được cải biên lại ở dạng nhẹ hơn.
Với việc loại trừ
các phương án trên, chỉ còn lại một khả năng, đó là Pháo đài Thủ
khối.
Pháo đài Thổ Khối ban đầu do ông Phạm Văn Đôn trực tiếp chỉ huy với hai khẩu pháo cao xạ 75mm chưa rõ kiểu loại, sau khi ông được điều về làm đại đội trưởng Đại đội Pháo binh Thủ đô thì pháo đài do Trung đội trưởng Nguyễn Uyên chỉ huy.
Pháo đài Thổ Khối cũng là đơn vị pháo binh gặp trắc trở nhất ở mặt trận Hà Nội. Lúc đầu trận địa được bố trí ở Làng Thủ khối (Gia Lâm), tuy nhiên sau khi bị quân Pháp gây hấn và uy hiếp, pháo đài phải di chuyển để giữ bí mật, đầu tiên về Làng Khoan Tế và sau đó đến trước thời điểm 19-12-1946 thì đóng ở Làng Đào Xuyên (Gia Lâm), nhận nhiệm vụ bắn phá Sân bay Gia Lâm và Nhà máy khuy. Trong cuộc chiến đấu ngày 20-12-1946, máy bay Pháp đã ném bom phá hỏng một khẩu pháo của pháo đài. Khẩu pháo còn lại ngay đêm đó được chở bằng thuyền qua sông Hồng về bố trí ở Yên Duyên (Thanh Trì). Ngày 15-1-1947, quân Pháp chiếm Vĩnh Tuy, khẩu đội này phải kéo bằng tay rút về Hữu Lê (Hà Đông) và đến cuối tháng 2-1947 bị quân Pháp đánh chiếm khi đang bắn chặn địch trên trục Hà Nội-Hà Đông.
Trong khi đó, khẩu pháo hỏng cũng được chở từ Đào Xuyên qua Sông Hồng và đưa về xưởng trọng pháo ở Làng Phượng Nghĩa (Quốc Oai) để sửa chữa, lắp ráp lại và tổ chức thành một trung đội chiến đấu mới do Trung đội trưởng Doãn Tuế chỉ huy. Tuy nhiên ngày 3-2-1947 quân Pháp nống ra đánh chiếm trận địa, đơn vị chỉ kịp đem giấu nòng pháo và một số chi tiết vào trong núi. Bệ pháo sau đó bị lính Pháp đặt mìn phá hủy.
Như vậy, dựa vào những tấm ảnh trên, có thể tạm nhận
định đây là một khẩu đội thuộc trung đội pháo binh đóng tại Pháo đài
Thổ Khối (hay Pháo đài Đào Xuyên). Những bức ảnh này có lẽ đã được
nhà nhiếp ảnh Nguyễn Bá Khoản chụp lại trước ngày 20-12-1946, hoặc
chụp khẩu đội ở Yên Duyên (hoặc Hữu Lê) trong quá trình tác giả đang
theo sát những diễn biến chiến đấu của mặt trận Liên khu 2 phía nam
Hà Nội. Mặc dù không có thêm thông tin chi tiết hơn, vẫn có thể khẳng
định đây không phải là ảnh chụp ở Pháo đài Láng như các sách báo
lâu nay vẫn ghi nhận.
Tài liệu tham khảo:
·
Lịch sử Pháo binh Quân
đội Nhân dân Việt Nam 1945-1954.
·
Pháo binh Quân đội Nhân
dân Việt Nam những chặng đường chiến đấu, Tập 1.
·
Lịch sử Hậu cần-Kỹ
thuật quân sự Việt Nam trong kháng chiến chống Thực dân Pháp 1945-1954.
·
“Đơn vị pháo binh đầu
tiên” – Phạm Văn Đôn.
·
“Tiếng pháo bảo vệ
Thủ đô ngày đầu kháng chiến” – Doãn Tuế.
·
“Công trường trọng
pháo” – Nguyễn Huy An.











Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét