Thứ Tư, 27 tháng 7, 2022

Random readings (2)

Tổ "vũ khí nặng" là siêu cảm tử, nên mỗi chiến sĩ được mặt trận cấp phát một chiếc "lập lắc" bằng nhôm cứng, trên mặt khắc tên họ, dây đeo bằng thép không rỉ, để lỡ hy sinh xác người nọ khỏi lan với xác người kia. Các anh "vũ khí nặng" rất hãnh diện với việc cấp phát ưu tiên này. Trời rét căm căm mà anh nào cũng xắn cao tay áo quân phục để khoe. Tôi còn nhớ trong thiên hùng ca tôi viết cả một đoạn thơ dài về những chiếc "lập lắc" này và những chiến sĩ đeo nó trên cườm tay. Tôi gọi chúng là của hồi môn của cuộc chiến tranh Vệ quốc tặng cho những đứa con hiếu nghĩa tình nguyện kết duyên với Tử Thần!

Một buổi sáng, mặt trận Huế chìm trong mưa. Bùn đất lép nhép trong các chiến hào. Tôi từ chỉ huy sở Mặt trận chạy liên lạc xuống trung đội anh Ngọc đưa mật khẩu chiến đấu đêm hôm đó. Mật khẩu đựng trong phong bì dán kín, có gắn xi, con dấu đồng của Mặt trận đóng lên xi đảm bảo tuyệt mật. Phùng Huấn ngoắc tay gọi tôi: "Bê! Bê." (tên gọi tôi ngày còn ở nhà), rồi ghé sát tai tôi nói nhỏ: "Tối ni đơn vị tau đi cảm tử vị trí nhà hàng Sap-phăng-xông (Bây giờ là cửa hàng Bách hóa số 1, thành phố Huế), Mặt trận sẽ đãi tụi tau một bữa thịt bò, thịt heo với xôi ở sân chùa Vạn Phước. Để lỡ có chết thì anh em được chết no. Tắt mặt trời, mi nhớ chạy xuống mà ăn chực". Tụi liên lạc nhóc chúng tôi, hễ nghe nói được ăn thì có phải chui qua lưới lửa của đạn súng máy, chúng tôi cũng chẳng từ. Chúng tôi thường lý sự: "Bắn chưa chắc đã trúng. Trúng chưa chắc đã chết. Không trúng, không chết thì được ăn?".

Tôi ngờ bữa ăn tối hôm đó chính là bữa ăn mà Nguyễn Đắc Xuân đã kể lại trong bài báo nói trên: "Vợ chưa cưới của đồng chí Phùng Huấn, đã 70 tuổi, từ xã Thuỷ Dương ( tên mới của làng Thuỷ Thanh Thượng) chống gậy lên thăm hài cốt của người yêu xưa. Bà kể: Chiều đó tôi lên đơn vị thăm anh ấy. Tôi rủ anh đi ăn hàng. Anh ấy nói: "Tối ni đơn vị anh đi cảm tử với tụi Tây. Mặt trận hẹn đãi Trung đội một bữa thịt bò thịt heo ê hề. Chừ đi ăn hàng, sợ ngang bụng tối không ăn được, phí đi". Anh ấy nhất định không đi. Tôi ngó cổ tay anh ấy, hỏi: "Người ta đeo vòng vàng xuyến bạc, anh đeo cái miếng sắt, miếng chì nớ mần chi rứa?". Anh nói: "Miếng sắt miếng chì ni nhưng ai đem vàng bạc đổi, đừng hòng tui đổi. Chỉ có mấy thằng lính cảm tử như tụi anh mới được Mặt trận phát cho đeo. Trên ni người ta khắc tên họ, để lỡ anh có chết, em nhận đúng xác anh đem về chôn, không thì em lại chôn lộn một thằng chồng chưa cưới khác, mà cứ khóc hu hu: "Anh Huấn ơi là anh Huấn ơi… Nỡ bỏ em mà đi tội nghiệp em lắm anh nờ…". Tôi tưởng anh nói bông lơn chơi ai ngờ anh nói thiệt…"

Nếu bữa ăn bà kể lại với văn hữu đúng là bữa ăn cuối cùng của Trung đội cảm tử ở sân chùa Vạn Phước đêm đó, thì tôi còn nhớ rất rõ có cả Trung đoàn trưởng Hà Văn Lâu và chỉ huy trưởng Mặt trận khu C, Phùng Đông… cũng là bác họ tôi dự. Bữa ăn đêm đó rất lạ. Không ồn ào, nhộn nhạo như những bữa liên hoan thường lệ khác của lính tráng chúng tôi. Cả trung đội ngồi ăn rất lặng lẽ trong ánh sáng chập chờn của mấy ngọn đuốc dầu hỏa. Nghe được cả tiếng đũa bát chạm lách cách. Tiếng nhai nuốt vội vàng. Họ ăn mà nghiêm trang như hành lễ. Hình như họ dự cảm một điều gì đó vô cùng nghiêm trọng sắp xẩy ra trong cuộc đời chiến trận của họ. Chính cái không khí lặng lẽ bất thường này đã tạc khắc vào ký ức tuổi thơ của tôi một ấn tượng buốt nhói mà thời gian không thể làm phai mờ…

-------------------------------------------------------------------

"Bản hùng ca bị mối xông và mười bảy bộ hài cốt" - Phùng Quán.

Thứ Sáu, 18 tháng 2, 2022

Thiệt hại xe tăng của Trung Quốc năm 1979

 

Để tiến công Việt Nam năm 1979, phía Trung Quốc đã huy động tổng cộng 7 trung đoàn và 2 tiểu đoàn thuộc lực lượng tăng thiết giáp, cụ thể:

Trung đoàn xe tăng Quân đoàn 41, Quân khu Quảng Châu: 105 xe tăng hạng nhẹ Type-62, 13 thiết giáp chở quân Type-63, 4 xe cứu kéo.

Trung đoàn xe tăng Quân đoàn 42, Quân khu Quảng Châu: 106 xe tăng hạng nhẹ Type-62, 13 thiết giáp chở quân Type-63, 4 xe cứu kéo.

Trung đoàn xe tăng Quân đoàn 43, Quân khu Vũ Hán: 80 xe tăng hạng trung Type-59, 7 thiết giáp chở quân Type-63, 4 xe cứu kéo.

Trung đoàn xe tăng Quân đoàn 54, Quân khu Vũ Hán: 80 xe tăng hạng trung T-34.

Trung đoàn xe tăng Quân đoàn 55, Quân khu Quảng Châu: 107 xe tăng hạng nhẹ Type-62, 13 thiết giáp chở quân Type-63.

Trung đoàn xe tăng độc lập Quân khu Quảng Châu: 80 xe tăng lội nước Type-63, 9 thiết giáp chở quân Type-63.

Trung đoàn xe tăng độc lập Quân khu Côn Minh: 102 xe tăng hạng nhẹ Type-62, 11 thiết giáp chở quân Type-63.

Tiểu đoàn 2, Trung đoàn xe tăng độc lập Quân khu Thành Đô: 37 xe tăng hạng trung Type-59

Tiểu đoàn hỏa tiễn, Sư đoàn xe tăng số 1, Quân khu Bắc Kinh: 18 hỏa tiễn tự hành Type-70 (xe thiết giáp Type-63 mang dàn hỏa tiễn 19 nòng 130mm).

Tổng cộng 781 xe chiến đấu với 697 xe tăng và 84 thiết giáp.

Hướng Hoàng Liên Sơn có 1 trung đoàn xe tăng hạng trung độc lập của Quân khu Côn Minh với 113 xe chiến đấu.

Hướng Lạng Sơn có 1 trung đoàn tăng hạng trung của Quân đoàn 55 và 1 tiểu đoàn tăng lội nước thuộc Trung đoàn xe tăng độc lập Quân khu Quảng Châu, tổng cộng 107 xe tăng hạng nhẹ Type-62, 26 xe tăng lội nước Type-63 và 13 thiết giáp chở quân Type-63.

Hướng Cao Bằng là nơi tập trung hơn 60% lực lượng xe tăng của Trung Quốc, gồm 2 trung đoàn tăng hạng nhẹ của Quân đoàn 41 và 42, 1 trung đoàn tăng hạng trung của Quân đoàn 43, 2 tiểu đoàn tăng lội nước của Trung đoàn xe tăng độc lập Quân khu Quảng Châu và 1 tiểu đoàn hỏa tiễn tự hành. Tổng cộng 211 xe tăng hạng nhẹ Type-62, 80 xe tăng hạng trung Type-59, 54 xe tăng lội nước Type-63, 42 thiết giáp chở quân Type-63 và 18 hỏa tiễn tự hành Type-70.

Như vậy lc lượng trc tiếp tham chiến trong thc tế là 580 xe tăng và 84 thiết giáp. Trung đoàn xe tăng Quân đoàn 54 và Tiểu đoàn Type-59 của Trung đoàn xe tăng độc lập Quân khu Thành Đô nằm dự bị phía sau, không tham chiến.

Trong số 664 xe chiến đấu tham chiến, có tới 609 chiếc bị hư hỏng ở nhiều cấp độ. 87% các tổn thất này (tương đương 530 xe) xảy ra trong 4 ngày chiến đấu đầu tiên (trong đó ngày 17-2-1979 lên tới 52%, còn lại lần lượt là 15%, 13%, 7%). Con số này đã tính tất cả các sự cố, hỏng hóc kỹ thuật, bao gồm cả không trong tình huống chiến đấu. Số xe "chiến thương" được Trung Quốc xác định là chiếm 31%, nghĩa là khoảng 190-200 xe. Có 76 chiếc được tính là bị phá hủy (có 5 xe Type-59, còn lại là Type-62 và Type-63), trong đó 32 xe được đưa về Trung Quốc xử lý và 44 xe bị bỏ lại chiến trường. Còn lại 533 xe (cả chiến thương lẫn phi chiến thương) được sửa chữa và khôi phục tình trạng chiến đấu.

Thông cáo chính thức của Bộ Quốc phòng Việt Nam tuyên bố tiêu diệt 280 xe tăng và thiết giáp đối phương, cao gấp rưỡi số Trung Quốc tự nhận. Trong điều kiện chiến tranh thì chuyện sai số như vậy là bình thường.




 

Thứ Bảy, 29 tháng 1, 2022

USS Sculpin và chuyến đi bí mật cuối cùng của đoàn tàu không số

 

Tháng 3-1972, nhằm tăng cường khả năng ngăn chặn tiếp tế bằng đường biển từ miền Bắc, Hải quân Mỹ quyết định sử dụng tàu ngầm tấn công hạt nhân USS Sculpin (SSN-590) thuộc lớp Skipjack theo dõi tàu vận tải của Hải quân Nhân dân Việt Nam từ khu vực xuất phát ở gần đảo Hải Nam (Trung Quốc) vào đến miền Nam Việt Nam, sau đó tiêu diệt trong hải phận Việt Nam trước khi kịp bốc dỡ hàng.

Theo lời kể của Đô đốc Charles R. Larson (lúc đó là Trung tá, thuyền phó USS Sculpin), ngày 10-4-1972 USS Sculpin chiếm lĩnh vị trí tuần tra ngoài khơi đảo Hải Nam. Ngày 12-4, tàu 645 thuộc Đoàn 125 do thuyền trưởng Lê Hà và chính trị viên Nguyễn Văn Hiệu chỉ huy xuất phát lần thứ 3, chở theo 70 tấn đạn dược, 1 tấn thuốc nổ và nhiều hàng hóa khác. Sau khi so sánh dữ liệu ảnh chụp, đồng thời đối chiếu với hướng đi bất thường về phía bờ biển phía tây Philippines, USS Sculpin xác định 645 là tàu vận chuyển vũ khí và bắt đầu theo dõi. Điều này được xác nhận thêm sau khi tàu 645 chuyển hướng ngoặt về phía nam.


Tàu ngầm tấn công hạt nhân USS Sculpin (SSN-590)

USS Sculpin theo dõi 645 qua kính tiềm vọng và sonar thụ động nhờ vào âm thanh khá đặc trưng từ trục và cánh quạt chân vịt. Để bám đuôi tàu 645 di chuyển với tốc độ khoảng 20km/h, USS Sculpin duy trì tốc độ không quá 37km/h ở độ sâu 60m, cách đáy 9 đến 24m. Ban đầu mọi việc tiến triển thuận lợi, tuy nhiên sau đó tàu 645 chuyển hướng về phía đông, đi vào một khu vực có nhiều đá ngầm, rạn san hô và xác tàu đắm (có lẽ để tránh bị theo dõi). Điều này buộc USS Sculpin quyết định tính toán và chuyển hướng đi vòng để đón đầu 645. Trong thời gian đó máy bay trinh sát P-3 Orion của Hải quân Mỹ được yêu cầu bí mật tiếp tục giám sát từ trên cao để thay thế.

USS Sculpin gặp khá nhiều khó khăn trong quá trình theo dõi khi phải bám theo 645 qua những khu vực có nhiều dàn khoan dầu hoạt động, hoặc khu vực tuyến đường thủy nhiều tàu bè qua lại. Sau khi tiến sâu xuống phía nam, tàu 645 ngoặt sang phía tây rồi chuyển hướng tây bắc. Đối với phía Mỹ, đây là dấu hiệu rõ ràng cho thấy tàu 645 chuẩn bị cập bờ tiếp tế vũ khí. Lúc này MACV ra lệnh cho USS Sculpin tiến hành chụp ảnh làm bằng chứng, đồng thời sẵn sàng tiêu diệt bằng ngư lôi. Để thực hiện nhiệm vụ này, USS Sculpin phải lặn sâu xuống 27m, chỉ cách đáy 6m rồi tăng tốc vượt lên trước đón đầu, kính tiềm vọng chỉ nhô lên khoảng 15cm trong 6s để chụp ảnh để tránh bị phát hiện.

Cách bờ biển Việt Nam khoảng 100 hải lý, USS Sculpin mất dấu 645 trong khoảng 2 giờ khi tàu chuyển hướng sang tây bắc, tàu 645 đã tắt máy và đèn khiến cho sonar và kính tiềm vọng của USS Sculpin mất tác dụng, việc sử dụng radar sục sạo cũng không mang lại kết quả. Trước tình hình đó, dựa theo hành trình được tính toán, USS Sculpin quyết định tăng tốc vượt lên trước khoảng 30 hải lý, đón đầu 645 tại điểm dự đoán, đồng thời yêu cầu máy bay trinh sát P-3 Orion tìm kiếm quanh khu vực mất dấu. Máy bay trinh sát đã phát hiện được 645 nhờ đặc điểm sơn màu trắng, sau đó USS Sculpin cũng xác định lại được mục tiêu.

Ban đầu MACV đề nghị cho phép USS Sculpin đánh chìm 645 bằng ngư lôi, tuy nhiên Đô đốc John Sidney McCain Jr. (bố của phi công John McCain, lúc này đang bị bắt làm tù binh ở miền Bắc), tư lệnh Bộ chỉ huy Thái Bình Dương không chấp nhận và yêu cầu giao lại cho Hải quân Việt Nam Cộng hòa.

Ngày 22-4 và 23-4-1972, tàu 645 vào đến điểm chuyển hướng, cách Phú Quốc khoảng 60 hải lý, với ý định chờ đến đêm sẽ cập bờ. 14h chiều 22-4-1972, tàu hộ tống khu trục (Việt Nam Cộng hòa gọi là khu trục hạm) lớp Edsall số hiệu  HQ-4 Trần Khánh Dư của Hải quân Việt Nam Cộng hòa được lệnh báo động và rời cảng Sài Gòn.


 "Khu trục hạm" HQ-4 Trần Khánh Dư

14h ngày 23 tháng 4,tàu 645 nhận được điện của Sở chỉ huy báo cho biết trong đêm sẽ có thuyền đón ở mũi Cà Mau, nhưng có điện báo bến động nên quay ra hải phận quốc tế. Tối 23-4,  HQ-4 và 2 tàu chiến khác của Việt Nam Cộng hòa phát hiện 645 trên vùng biển vịnh Thái Lan bằng radar và tiếp cận khi tàu cách bờ 25-30 hải lý với ý đồ bắt sống. Sáng 24-4,  HQ-4 đã kèm chặt 645, xác định được đây là tàu vận tải của miền Bắc và quan sát được cả các vị trí đặt súng máy 12,7mm trên tàu. Sau nhiều nỗ lực gọi hàng và bắn uy hiếp không có kết quả,  HQ-4 dùng pháo 76,2mm khai hỏa thẳng vào 645 làm tàu bị cháy, một số thủy thủ thương vong. Tàu 645 vừa cố gắng cơ động ra xa vừa bắn trả bằng 12,7mm, B-40, B-41. Tuy nhiên khoảng 11h, tàu bị trúng đạn vào lái, mất khả năng điều khiển. Chính trị viên Nguyễn Văn Hiệu yêu cầu cho thủy thủ đoàn rời tàu trong khi mình nán lại để hủy tài liệu và đặt kíp nổ phá tàu.

Theo phía Việt Nam Cộng hòa, tàu 645 đã bị đạn pháo của  HQ-4 bắn nổ tung, trong khi theo Hải quân Nhân dân Việt Nam, chính trị viên Nguyễn Văn Hiệu đã chủ động ở lại điểm hỏa khi tàu ở cách xa thủy thủ đoàn nhất để tránh thương vong cho đồng đội.

Trong số thủy thủ đoàn 645 có 6 người hy sinh bao gồm cả Chính trị viên Nguyễn Văn Hiệu, 16 người (trong đó 6 bị thương) bị Hải quân Việt Nam Cộng hòa bắt làm tù binh, bao gồm cả Thuyền trưởng Lê Hà. Năm 1973 thủy thủ đoàn được trao trả sau Hiệp định Paris. Chính trị viên Nguyễn Văn Hiệu được truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân năm 1978.


Liệt sỹ, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Nguyễn Văn Hiệu

Mặc dù có nhiều dấu hiệu, bao gồm cả nội dung liên lạc từ 645 do USS Sculpin thu được cho thấy dường như thủy thủ đoàn nghi ngờ có tàu ngầm bám theo mình nhưng các tài liệu của Hải quân Nhân dân Việt Nam xuất bản về sau không nhắc đến điều này mà cho rằng 645 bị máy bay và tàu mặt nước của Hải quân Việt Nam Cộng hòa phát hiện gần bờ biển Việt Nam, trong khi trên thực tế tàu đã bị tàu ngầm USS Sculpin theo dõi gần như liên tục trên hành trình khoảng 2500 hải lý (khoảng 4600km).

Sự kiện tàu 645 kết thúc giai đoạn vận chuyển bí mật bằng tàu không số kéo dài 10 năm (4-1962 đến 4-1972) của Đoàn 125 với tổng cộng 168 chuyến và 6105 tấn vũ khí cho chiến trường. Cũng bắt đầu từ đây, Đoàn 125 chuyển hoàn toàn sang phương thức vận chuyển mới: tổ chức các đoàn đánh cá công khai, có đăng ký hợp pháp ở miền Nam, sử dụng tàu gỗ 2 đáy, vừa đánh cá, chở hàng thuê vừa chớp thời cơ vận chuyển vũ khí trên những chặng ngắn ở miền Nam hoặc ra thằng miền Bắc nhận vũ khí. Với phương thức mới này, Hải quân Nhân dân Việt Nam đã thực hiện thành công 31 chuyến, đưa được 520 tấn vũ khí vào Trà Vinh và Cà Mau.

 

Xe tăng 706 - anh hùng hụt của Trung Quốc năm 1979

 

Mô tả của phía Trung Quốc về các sự kiện như sau:

Chiều 19-2-1979, Đại đội xe tăng 7, Tiểu đoàn 3 dẫn đầu đội hình Trung đoàn xe tăng Quân đoàn 42 của Trung Quốc tiến công trên hướng từ Đông Khê theo Đường số 4 về Thị xã Cao Bằng. Đây là trung đoàn xe tăng hạng nhẹ, trang bị 106 xe tăng K-62-85 (Type-62), 13 thiết giáp K-63 và 4 xe hỗ trợ.

Lúc 13h35, Đại đội 7 tổ chức vượt qua cầu số 9 (?) - một cây cầu đá đã bị công binh Việt Nam đặt mìn phá hủy một phần. Chỉ chiếc đi đầu của Trung đội 1 mang số hiệu 706 qua được trước khi cầu sập, chiếc thứ hai phải dừng lại và bị bắn cháy. Toàn bộ đội hình phía sau phải dừng lại và mất liên lạc với xe 706.

Xe 706 tiếp tục lao thẳng về Thị xã Cao Bằng với tốc độ 40km/h. Trên đường chiếc xe này bị trúng đạn làm trưởng xe trung đội trưởng Tạ Vinh Sinh bị thương nặng và pháo hai Dương Bỉnh Nam tử trận. Lái xe Lưu Yên Huy và pháo thủ Trịnh Hải Thạch tiếp tục điều khiển xe vừa chạy vừa bắn trả. Chiếc xe này chạy vào trong Thị xã Cao Bằng, sau đó vượt qua cầu và chạy lên đồi Nà Toòng (điểm cao 316). Bộ đội Việt Nam bao vây tấn công và bắn cháy xe. 2 lính tăng Trung Quốc phải trốn vào rừng, sau đó bị bắt làm tù binh chiều 21-2-1979 trong khi đang ra ngoài tìm thức ăn.

Quân Trung Quốc làm chủ thị xã ngày 25-2-1979 và tìm thấy xác xe tăng. Cho rằng cả 4 thành viên kíp lái đều đã chết trong chiến đấu, chỉ huy đơn vị này đã viết báo cáo ca ngợi thành tích và đề nghị phong danh hiệu "anh hùng chiến xa" cho xe 706. Phóng viên của xưởng Bát Nhất được điều đến quay phim chụp ảnh để làm thành phim tài liệu. Tuy nhiên giữa lúc đấy thì Đài Tiếng nói Việt Nam cho phát thanh lời khai của các tù binh Trung Quốc, trong đó có pháo thủ Trịnh Hải Thạch. Thế là tất cả đều bị hủy bỏ.

Kết thúc đợt chiến đấu tháng 2-1979, các xe 704, 705, 708 của Trung đội 1 đều được phía Trung Quốc tặng huân chương Nhất đẳng công, chỉ riêng xe 706 được coi như biến mất khỏi lịch sử.

 



Xác xe 706 nằm lại trên đồi Nà Toòng, ảnh do PV Trần Mạnh Thường chụp.

Chủ Nhật, 23 tháng 1, 2022

Phi công Ace KQNDVN

 

Vài “fact” về các phi công Ace của Không quân Nhân dân Việt Nam. 

Theo số liệu tạm coi là mới nhất (được khảo sát trong cuốn Những trận không chiến trên bầu trời Việt Nam xuất bản 2013), trong Kháng chiến chống Mỹ có tổng cộng 19 phi công Không quân Nhân dân Việt Nam được ghi nhận từ 5 chiến công trở lên, tương đương danh hiệu Ace. 

Ở đây mở ngoặc thêm, vì sao nhiều bài báo lại nói là 16 Ace? Nguyên nhân là các bài viết này thường dịch từ nguồn phương Tây, trong đó họ không tính thành tích bắn rơi UAV nên đã bỏ qua 2 người là Liệt sỹ Đặng Ngọc Ngự và Phi công Nguyễn Văn Nghĩa (đều hạ 4 chiếc có người lái). Ngoài ra còn 1 trường hợp đặc biệt của Liệt sỹ Võ Văn Mẫn. Thực tế thì trong các tài liệu chính thức của Không quân Nhân dân Việt Nam, Liệt sỹ Võ Văn Mẫn được ghi nhận 4 chiến công (2 F-4, 1 F-8, 1 F-105). Tuy nhiên các tác giả của Những trận không chiến trên bầu trời Việt Nam sau khi đối chiếu diễn biến các trận đánh của 2 bên đã xác định Liệt sỹ Võ Văn Mẫn còn có thêm 1 F-4 vào ngày 24-4-1967. 

Trong số 19 Ace thì có 6 Ace MiG-17 – đứng đầu là Phi công Nguyễn Văn Bảy (A) với 7 chiến công và 13 Ace MiG-21 – đứng đầu là Phi công Nguyễn Văn Cốc với 9 chiến công. MiG-19 (thực ra là J-6) của VN được đưa vào chiến đấu muộn trong bối cảnh tác chiến đường không của Mỹ đã có rất nhiều cải tiến nên kết quả khá hạn chế, không có phi công nào bắn rơi trên 1 chiếc. 

Tính ở thời điểm lập công, các Ace MiG-17 đều thuộc Trung đoàn không quân 923 (đoàn Yên Thế). Ace MiG-21 có 9 người thuộc Trung đoàn không quân 921 (đoàn Sao Đỏ), 2 người thuộc Trung đoàn không quân 927 (đoàn Lam Sơn) và 2 người lập công khi chiến đấu ở cả 2 trung đoàn 921 và 927. 

Phi công Nguyễn Nhật Chiêu (Trung đoàn 921) là Ace duy nhất lập công trên cả 2 loại máy bay: ngày 20-9-1965 bắn hạ 1 F-4 bằng MiG-17 và sau đó trong năm 1967 bắn hạ 1 F-105, 4 F-4 bằng MiG-21. Các Ace còn lại đều lập công trên 1 loại máy bay duy nhất mặc dù có không ít người từng lái MiG-17 trước khi chuyển sang MiG-21. 

Nếu tính thành tích bắn rơi máy bay có người lái, có 4 vị trí đồng hạng nhất với 7 chiến công là Phi công Nguyễn Văn Cốc, Phi công Nguyễn Hồng Nhị, Phi công Phạm Thanh Ngân (MiG-21) và Phi công Nguyễn Văn Bảy (A) (MiG-17). 

Phi công Nguyễn Hồng Nhị và Phi công Phạm Thanh Ngân là người giữ kỷ lục bắn hạ nhiều loại máy bay Mỹ nhất (6 loại). “Đơn điệu” nhất là Phi công Lê Thanh Đạo, chỉ có 1 loại duy nhất là F-4 (6 chiếc). 

Trong số các chiến công, có 1 vài mục tiêu đặc biệt, đó là các máy bay tác chiến điện tử, 1 RC-47 được ghi công cho Phi công Lưu Huy Chao ngày 29-7-1966 và 1 EB-66 được ghi công cho Phi công Nguyễn Đăng Kính ngày 19-11-1967. 

Phi công Nguyễn Tiến Sâm là người có thời gian xác lập danh hiệu Ace nhanh nhất khi chỉ mất đúng 3 tháng (từ ngày 5-7 đến 5-10-1972) để bắn hạ 5 chiếc F-4. Về phía MiG-17 là Liệt sỹ Lê Quang Trung với thời gian từ 12-6 đến 9-10-1966. Nói về chuỗi ghi điểm có thể kể thêm Phi công Nguyễn Hồng Nhị, từ 31-8 đến 7-11-1967 đã liên tiếp hạ 5 chiếc có người lái (trước đó ngày 4-3-1966 Phi công Nguyễn Hồng Nhị bắn rơi chiếc đầu tiên là 1 UAV).

Phi công Vũ Ngọc Đỉnh là Ace duy nhất được ghi công bắn rơi 2 máy bay trong 1 trận (2 F-105 ngày 17-12-1967). Ngoài ra Phi công Vũ Ngọc Đỉnh là 1 trong 2 trường hợp hiếm hoi của Không quân Nhân dân Việt Nam được ghi công bắn hạ trực thăng (1 chiếc H-53 ngày 28-1-1970).

Có 3 Ace đã hy sinh trong chiến đấu, và người thứ 4, Liệt sỹ Lê Quang Trung hy sinh trong lúc bay huấn luyện bằng MiG-15UTI/JJ-2 khi đang là Thiếu tá, Trung đoàn trưởng Trung đoàn không quân 925, 1 điều rất đáng tiếc.

Và điều cuối cùng khá hiển nhiên là cả 19 phi công Ace của Không quân Nhân dân Việt Nam đều đã được phong danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.

 





Chủ Nhật, 19 tháng 12, 2021

"Viet Nam must be crushed"

 

Hai tuần sau Toàn quốc kháng chiến 1946, Bộ trưởng Hải ngoại Pháp Marius Moutet tới Việt Nam. Moutet trực tiếp đi thị sát mặt trận Hà Nội trên xe bọc thép và đã chứng kiến 2 lính Pháp trúng đạn bắn tỉa chỉ cách mình chừng chục mét. Trả lời phỏng vấn sau đó, Moutet tuyên bố phải giải quyết vấn đề Việt Nam bằng biện pháp quân sự trước khi tiến hành bất cứ cuộc đàm phán hòa bình nào.

Trước đó vài ngày, trên đài phát thanh, Cao ủy Pháp, Đô đốc d'Argenlieu đe dọa sẽ trừng trị nặng nề các nhà lãnh đạo bản xứ (tức VNDCCH). Phát biểu của các đại diện nước Pháp không phải đe dọa suông. Trong thời gian này, hàng ngàn lính Pháp cùng với trang bị đã và đang được được vận chuyển sang Việt Nam.

Những gì sau đó là lịch sử đã biết. Moutet chết năm 1968, d'Argenlieu năm 1964. Cả hai đều đã sống tới ngày nhìn thấy Điện Biên Phủ đầu hàng.




Chủ Nhật, 5 tháng 12, 2021

Random readings (1)

Nhớ một ngày cuối tháng 4/1977. Hôm ấy tôi trực chỉ huy ở hậu cứ Binh đoàn. Tôi nhận được tin cấp trên thông báo là quân địch dùng mấy sư đoàn kéo theo lúc nhúc những dân binh vuợt kinh Vĩnh Tế sang chiếm Núi Dài, Nhà Bàn,Tịnh Biên… bao vây định chiếm thị xã Châu Đốc, tàn sát dân ta, đốt phá xóm làng mà đồng bào ta mới dựng lại sau mười năm chiến tranh chống Mỹ. Theo lệnh của cấp trên, Binh Đoàn phải phái ngay một đơn vị xuống An Giang và toàn Binh đoàn sẵn sàng chiến đấu.

Biết đồng chí Mười Kim Phó tư lệnh Đoàn 9, đang nghỉ phép  gần hậu cứ binh đoàn, tôi phái sĩ quan tác chiến đi mời đồng chí về nhận nhiệm vụ. Đồng chí Mười Kim, 47 tuổi, vừa mới cưới vợ được 8 tháng. Đồng chí được gọi giữa lúc đang xoay trần cuốc đất trồng mấy vồng khoai lang. Đồng chí quăng cuốc vào nhà không kịp tắm rửa, chỉ lau sơ rồi choàng bộ quân phục, thắt dây súng ra đi. Chị Mười mới có thai được 3 tháng, đứng dựa cột nhìn chồng hỏi :

- Giặc giả nữa à! Đi nữa à?

Anh Mười Kim cười đáp:

- Giặc thiệt chứ giặc giả gì, đi gấp, má nó cuốc nổi thì trồng cho líp chỗ đất đó.

Anh trèo lên xe, chị đứng tựa cửa trông theo... Từ ấy anh Mười Kim trở về thăm nhà được hai lần nữa. Và bây giờ thì anh đã hy sinh.

-----------------------------------------------

"Đường vào Phnom Penh", Bùi Cát Vũ