Sau ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, trong biên chế Hải quân Nhân dân Việt Nam đã xuất hiện thêm một lực lượng tàu tuần tiễu quan trọng, đó là các tuần duyên hạm PGM thu giữ từ Hải quân Việt Nam Cộng hòa.
Nguồn gốc
Đầu thập niên 1960, quân đội Mỹ đã
phát triển và chế tạo nhiều phiên bản pháo hạm tuần tra kiểu PGM
(Patrol, Gunboat, Motor) để phục vụ cho nhu cầu kiểm soát duyên hải,
ngăn chặn các hoạt động xâm nhập, vận tải đường biển của hải quân
nhiều nước đồng minh như Phillipines, Thái Lan, Indonesia, Thổ Nhĩ Kỳ,
Iran, Ecuador, Dominica, Peru… Trong đó số lượng trang bị đáng kể nhất
là cho Hải quân Việt Nam Cộng hòa.
Những tàu PGM đầu tiên được biên
chế cho Hải quân Việt Nam Cộng hòa thuộc phiên bản PGM-59 được khởi
công và hạ thủy đầu năm 1963. Tháng 5-1963, Mỹ chính thức bàn giao 5
tàu PGM đầu tiên do Tập đoàn Đóng tàu J.M
Martinac thi công tại Tacoma, Washington. Đến tháng 2-1964, Hải
quân Việt Nam Cộng hòa tiếp tục được chuyển giao thêm 3 đợt, nâng tổng
số tàu trang bị lên 12 chiếc PGM-59 với số hiệu từ HQ-600 đến HQ-611.
HQ-605 Kim Qui - tàu lớp
PGM-59 đầu tiên được chuyển giao cho Hải quân Việt Nam Cộng hòa.
Từ tháng 1-1966, sau 3 đợt viện
trợ bổ sung thì đến tháng 4-1967, Hải quân Việt Nam Cộng hòa có thêm
8 tàu tuần tra PGM-71, mang số hiệu từ HQ-612 đến HQ-619.
Các phiên bản PGM-59 và PGM-71 nhìn
chung không có quá nhiều khác biệt, với lượng giãn nước từ 122-130
tấn, dài khoảng 30,7m, rộng khoảng 6,4-6,7m, mớn nước khoảng 2,6m. Tàu
có tốc độ 17-18 hải lý/giờ, tầm hoạt động 630 hải lý, thủy thủ
đoàn khoảng 20 người. Hỏa lực trên tàu gồm 1 bệ pháo 40mm đơn, 2 bệ
pháo 20mm đôi, 2 súng máy 12,7mm và một số tàu còn có thêm 1 bệ súng
cối 81mm bắn trực xạ.
Tất cả các tàu PGM-59/71 đều được
Hải quân Việt Nam Cộng hòa định danh là “tuần duyên hạm”, biên chế cho
Hải đội 1 Tuần duyên thuộc Hạm đội Trung ương với nhiệm vụ tuần tiễu ngăn chặn ven biển, yểm trợ hỏa lực cho
hoạt động tác chiến trên bộ cũng như hộ tống các đoàn vận tải trên
sông biển. Chúng đã gây ra một số khó khăn, tổn thất nhất định cho
các hoạt động của Quân Giải phóng miền Nam. Một số tàu vận tải
“không số” từ miền Bắc chở vũ khí cho miền Nam gặp phải các cuộc
hành quân vây bắt của Hải quân Việt Nam Cộng hòa có sự tham gia của
các tuần duyên hạm PGM đã không thể phá vây thành công, phải chấp
nhận phá hủy tàu hoặc bị đối phương thu giữ.
HQ-612
Thái Bình, tàu lớp PGM-71 đầu tiên được chuyển giao cho Hải quân Việt
Nam Cộng hòa.
Ngày 30-4-1975, cuộc
Tổng tiến công và nổi dậy xuân 1975 giành thắng lợi hoàn toàn, miền
Nam Việt Nam được giải phóng. Toàn bộ các lực lượng vũ trang của
chế độ Việt
Nam Cộng hòa nhanh chóng tan rã, bỏ
lại một số lượng lớn vũ khí trang bị, bao gồm hàng trăm tàu thuyền
hải quân nói chung và nhiều tuần duyên hạm PGM nói riêng bị Quân Giải
phóng miền Nam thu giữ.
Cũng cần nói thêm
là trong số này, có những tàu ban đầu bỏ chạy ra nước ngoài nhưng sau
đó các sĩ quan và thủy thủ Việt Nam Cộng hòa đã quyết
định quay trở về với Tổ quốc. Một ví dụ điển hình là trường hợp
của chiếc tuần duyên hạm PGM số hiệu HQ-602 Minh Hòa. Chiến hạm này đã
cùng với một số tàu khác thuộc Vùng 4 duyên hải của Việt Nam
Cộng hòa đào tẩu và cập cảng Singapore
ngày 5-5-1975 rồi tiếp tục khởi hành tới Philippines ngày 9-5-1975. Tuy
nhiên khi đi ngang ngoài khơi Vũng Tàu đêm 12-5-1975, các sĩ quan và
thủy thủ HQ-602 đã tiến hành binh biến, sau đó gây áp lực buộc hạm
phó phải đưa tàu quay lại Việt Nam và cập bến Cảng Bạch Đằng đêm
14-5-1975.
HQ-602
Minh Hòa tại Cảng Bạch Đằng, Sài Gòn, tháng 5-1975.
Tổng cộng Hải quân
Nhân dân Việt Nam đã thu giữ được 586 tàu thuyền, trong đó có 246 tàu
thuyền chiến đấu, tuy nhiên chỉ có 162 chiếc có thể sử dụng ngay.
Các tư liệu lịch sử sau này có thể xác nhận trong số đó có ít nhất
11 tàu PGM được biên chế và sử dụng lại sau ngày giải phóng:
6 chiếc PGM-59 mang
số hiệu 601 (nguyên là HQ-601 Tiên Mối của Việt Nam Cộng
hòa), 602 (nguyên là HQ-602 Minh Hòa), 603 (nguyên là HQ-603 Kiến Vàng),
605 (nguyên là HQ-605 Kim Qui), 606 (nguyên là HQ-606 Mây Rút) và 607
(nguyên là HQ-607 Nam Du).

5 chiếc PGM-71 mang số hiệu
612 (nguyên là HQ-612 Thái Bình), 613 (nguyên là HQ-613 Thị Tứ), 614
(nguyên là HQ-614 Song Tử), 615 (nguyên là HQ-615 Tây Sa) và 619 (nguyên
là HQ-619 Thổ Châu).
Chiến
đấu bảo vệ biên giới Tây Nam
Trên thực tế thì
nếu so với đối thủ tương đối “đồng hạng cân” là các tàu pháo tuần
tra K-62 (lớp Thượng Hải) do Trung Quốc chế tạo được Hải quân Nhân dân
Việt Nam sử dụng từ năm 1965 thì các tàu PGM-59/71 có phần hơi “lép vế”.
Không chỉ trội hơn về hỏa lực với 2 bệ pháo 37mm đôi, 2 bệ pháo 25mm đôi
và một số tàu còn gắn thêm 1 khẩu ĐKZ-82mm, K-62 còn áp đảo PGM về tốc
độ khi có thể đạt tới 28,5 hải lý/giờ. Tuy nhiên với tình hình trang bị
hết sức thiếu thốn của Hải quân Nhân dân Việt Nam lúc đó thì đây vẫn
là một sức mạnh bổ sung cực kỳ quan trọng. Điều này càng có ý
nghĩa hơn trong bối cảnh nguy cơ chiến tranh ở biên giới Tây Nam đã cận
kề, và Hải quân Nhân dân Việt Nam đang phải căng mình bảo vệ một vùng
biển rộng lớn trải dài từ Bắc vào Nam.
Tính đến lúc này, những chiếc PGM mới nhất cũng đã có lịch sử gần 10 năm hoạt động liên tục. Nguồn vật tư bảo đảm hậu cần, kỹ thuật không tương đồng với các trang bị của khối Xã hội Chủ nghĩa, chỉ có thể dựa vào số chiến lợi phẩm tồn kho. Tuy nhiên vượt lên những khó khăn, Hải quân Nhân dân Việt Nam đã nhanh chóng đưa các chiến hạm này vào trực chiến. Các tàu PGM được biên chế trong đội hình Hải đội 811, Hải đoàn 2, Hạm đội 171 – hạm đội chủ lực cơ động đầu tiên của Hải quân Nhân dân Việt Nam và sau đó có thêm Hải đội 513, Hải đoàn 127, Vùng 5 Hải quân. Đầu năm 1978, nhiều tàu PGM đã được cải biên thay thế các bệ pháo 40mm, 20mm và súng máy 12,7mm nguyên bản của Mỹ bằng các bệ pháo 37mm và súng máy 14,5mm của khối Xã hội Chủ nghĩa. Một số tàu còn được gắn thêm dàn pháo phản lực 12 nòng 107mm H-12 của Trung Quốc để tăng cường hỏa lực khi cần tấn công các tàu địch ở tầm xa cũng như bắn phá các mục tiêu trên bộ.
Hệ thống vũ khí
nguyên bản trên tàu PGM.
Từ năm 1977 chế độ
diệt chủng Khmer Đỏ ở Campuchia đẩy mạnh leo thang chiến tranh xâm lược
ở biên giới Tây Nam. Trên biển, Hải quân Khmer Đỏ huy động những phân
đội thuyền máy có trọng tải từ 20 đến 60 tấn, vũ trang bằng ĐKZ và súng
máy 12,7mm, được các tàu tuần tiễu và phóng lôi do Trung Quốc cung
cấp yểm trợ, liên tục xâm phạm, uy hiếp hải phận Việt Nam. Là các
tàu tuần tra chiến đấu mạnh nhất của Hải quân Việt Nam trong khu vực,
những tuần duyên hạm PGM được trang bị vũ khí mới và trong tay những
người chủ mới đã kiên quyết xung trận bảo vệ Tổ quốc và liên tiếp
giành thắng lợi.
Trận đánh đầu tiên
của PGM trên vùng biển Tây Nam diễn ra vào tối 1-4-1978 giữa biên đội
PGM số hiệu 601 và 614 thuộc Hải đội 811 (Hải đoàn 2, Hạm đội 171)
phối thuộc cho Vùng 5 và 3 thuyền vũ trang của Khmer Đỏ xâm phạm khu
vực Hòn Long - Hòn Đốc, Hà Tiên. Trong trận đầu ra quân này các tàu
PGM của Hải quân Việt Nam đã giành chiến thắng tuyệt đối, bắn chìm 2
thuyền, bắn trọng thương 1 chiếc khác và trở về an toàn.
Một tuần sau, tối
8-4-1978, biên đội PGM 601 và 614 tiếp tục đánh thắng trận thứ hai. Sau
khi phát hiện 6 thuyền máy vũ trang 20 tấn của Khmer Đỏ xâm nhập vùng
biển Hà Tiên, rạng sáng ngày 9-4-1978, biên đội nổ súng tấn công, bắn
chìm 2 thuyền và bắn trọng thương 2 thuyền địch.
Tối 21-5-1978, Khmer Đỏ lại cho một số thuyền máy vũ
trang 60 tấn xâm phạm vùng biển Hà Tiên. Biên đội PGM số hiệu 612 và
619 của Hải đội 811 phục kích sau khoảng 30 phút chiến đấu đã bắn
chìm 1 thuyền và trọng thương 2 thuyền địch. Tuy nhiên trong trận đánh
các tàu PGM cũng đã chịu tổn thất khi bị trúng đạn ĐKZ làm hỏng
nhẹ, đồng thời hy sinh 1 và bị thương 3 chiến sĩ.
Với những chiến
công đầu tiên, lực lượng PGM đã góp phần đắc lực vào việc bảo vệ
chủ quyền Việt Nam trên vùng biên giới Tây Nam.
Tham gia
chiến dịch giải phóng Campuchia
Ngày 23-12-1978, Quân
đội Nhân dân Việt Nam mở màn chiến dịch phản công hiệp đồng binh
chủng quy mô lớn, giải phóng các vùng lãnh thổ đang bị quân Khmer Đỏ
chiếm đóng trái phép, đồng thời vượt qua biên giới hỗ trợ nhân dân
Campuchia lật đổ chế độ diệt chủng Pol Pot. Phối hợp với các mũi
tiến công trên bộ và trên không, ngày 3-1-1979, các lực lượng hải quân
bắt đầu xuất phát, hình thành một đòn đột kích bằng đường biển
với nhiệm vụ giải phóng các cảng và hải đảo của Campuchia. Toàn bộ
lực lượng PGM của Hạm đội 171 và Hải đoàn 127 được huy động chiến
đấu trên các hướng chiến dịch. Đối thủ của Hải quân Nhân dân Việt Nam lúc này là
lực lượng hải quân và phòng thủ bờ biển của Khmer Đỏ với hơn 100
tàu thuyền, trong đó có khoảng 20-30 tàu chiến đấu do Trung Quốc và
Mỹ chế tạo, khoảng 30 thuyền vũ trang và gần 100 khẩu pháo mặt đất
và pháo cao xạ các loại.
Trên hướng chủ công, tối 6-1-1979,
đội hình tiến công của Hạm đội 171 tiến vào khu vực đổ bộ ở vùng
biển chân núi Tà Lơn, Kampong Som. Trong đêm 6-1 và rạng sáng 7-1-1979,
hải quân Khmer Đỏ 2 lần cho các tàu thuyền vũ trang xuất phát từ khu
vực đảo Hòn Nước, Phú Dự và cảng Ream định tập kích vào đội hình
đổ bộ của Hải quân Việt Nam. Cả 2 đợt tập kích này đều bị các
chiến hạm của Biên đội 2 bẻ gãy, giành thắng lợi đầu tiên của chiến
dịch. Trong những trận đánh này, các tàu HQ-05, HQ-07, K-62 203, 215 và
PGM 613 hiệp đồng tác chiến đã bắn chìm 2 tàu pháo lớp Thượng Hải
và bắn bị thương 2 thuyền vũ trang khác của Khmer Đỏ, bảo vệ an toàn
cho Lữ đoàn hải quân đánh bộ 126 đánh chiếm đầu cầu.
Tàu hải quân Hạm đội
171 tham gia chiến dịch giải phóng Campuchia tháng 1-1979.
Các tàu PGM của Hải đoàn 127,
Vùng 5 hải quân sau khi hoàn thành nhiệm vụ cảnh giới sườn phía đông
cho Hạm đội 171 đổ bộ ở Kampong Som, đến ngày 8-1-1979 cũng được lệnh
tăng cường cho Hạm đội 171 tổ chức thành 2 tốp đột kích làm nhiệm vụ trinh
sát, đánh phá các mục tiêu trên bờ, dọn bãi đổ bộ đánh chiếm quân cảng Ream.
Sáng 9-1-1979, Hạm đội 171 triển
khai đội hình tiếp cận Ream. Hải quân Khmer Đỏ tiếp tục cho 2 tàu
phóng lôi lớp Hồ Xuyên từ khu vực đảo Kohrong Raloem định tấn công
chiến hạm HQ-03. Cuộc tập kích này cũng bị biên đội PGM (603, 615) và
biên đội K-62 (197, 205) phối hợp đánh bại, buộc các tàu Khmer Đỏ
phải tháo chạy. Tàu HQ-03 được bảo vệ an toàn.
Tàu hải quân Hạm đội
171 tham gia chiến dịch giải phóng Campuchia tháng 1-1979.
Trưa 9-1-1979, Sở chỉ huy Quân chủng
phát lệnh cho các đơn vị tiến hành tổng công kích lần cuối vào cả 2
cảng Kampong Som và Ream. Tốp đột kích 1 có chiến hạm HQ-01 pháo kích
từ xa, biên đội K-62 (199, 203) trực tiếp yểm trợ cho biên đội PGM (605,
606, 607) tấn công Ream. Tốp đột kích 2 có chiến hạm HQ-03 pháo kích
từ xa, biên đội K-62 (197, 205) trực tiếp yểm trợ cho biên đội PGM (602,
603, 615) tấn công vào Kampong Som. Tuy nhiên chiều 9-1, trong quá trình
triển khai lực lượng, nhận thấy quân Khmer Đỏ còn chống cự mạnh nên
Hạm đội 171 quyết định cho tốp đột kích 2 dừng lại để tập trung
đánh chiếm từng cảng.
Trên hướng đột kích 1, các tàu PGM
605, 606, 607 tiến vào cách cảng Ream 2 hải lý gặp phải hỏa lực cối
81mm trong cảng và súng máy 12,7mm ở bắc Hòn Bãi bắn chặn. Biên đội
dàn hàng ngang pháo kích bằng hỏa tiễn H-12 và pháo 37mm nhưng trước
sự kháng cự của địch, trong khi trời sắp tối và xét thấy khả năng chưa thể
vào cảng, Hạm đội 171 quyết định cho các tàu PGM dừng lại và lùi ra xa thả
trôi.
Sáng 10-1-1979, Hạm đội 171 tiếp
tục tiến công. Trên hướng Kampong Som lực lượng tiến công gồm các tàu
HQ-01, HQ-03, 4 tàu K-62 (197, 199, 203, 205), 2 tàu PGM (612, 615) và 2
tàu PCF (101, 3268). Sau khi biên đội trinh sát gồm PGM 615 và 2 tàu PCF
phát hiện quân Khmer Đỏ đã rút khỏi cảng, các tàu chiến của Hải
quân Việt Nam nhanh chóng tiến vào cảng triển khai phòng thủ, đồng
thời bắt liên lạc với lực lượng đổ bộ của Lữ đoàn hải quân đánh
bộ 126. 08h15 ngày 10-1-1979, cảng Kampong Som chính thức được Quân đoàn
2 và Hải quân Nhân dân Việt Nam giải phóng.
Hải quân Việt Nam đổ
bộ trong chiến dịch giải phóng Campuchia, tháng 1-1979.
Trên hướng Ream, từ 09h30 sáng cuộc
chiến đấu của các tàu HQ-05, HQ-07 cùng 4 tàu PGM (602, 605, 606, 607)
với các trận địa pháo địch bắt đầu và diễn ra quyết liệt suốt
nhiều giờ. Kết hợp với hỏa lực 76mm trên HQ-05 và HQ-07, các tàu PGM
cũng dùng pháo trên hạm và hỏa tiễn H-12 pháo kích để mở đường cho
các tàu vận tải chở lực lượng của Lữ đoàn hải quân đánh bộ 101
tiến vào cảng. Đến 14h15, mũi đột kích đầu tiên của 2 tàu PCF cập
được cảng và đổ bộ binh đánh chiếm bàn đạp. Đến 17h15 ngày
10-1-1979, cảng Ream cũng đã được giải phóng.
Trong khi đại bộ phận lực lượng
của Hạm đội 171 tham gia chiến đấu trên hướng biển, Hải đội 811 được
lệnh cử 3 tàu PGM số hiệu 601, 612, 619 tham gia mũi tiến công đường
sông gồm 44 tàu chiến đấu và vận tải (PCF, LCM-6, LCM-8, thuyền xi
măng) của Trung đoàn 962, Quân khu 9 chở bộ binh. Cánh quân này tiến
dọc theo Sông Me Kong giải phóng Thủ đô Phnom Penh, đồng thời bảo vệ
sườn cho hướng tiến công trên bộ của Quân đoàn 4. Biên đội PGM đóng vai
trò là mũi nhọn đánh địch mở đường.
PGM 619 của Hải đội 811
trên đường hành quân giải phóng Phnom Penh, tháng 1-1979.
14h30 chiều 6-1-1979, hướng tiến
công trên sông xuất phát từ Tân Châu. Phát hiện lực lượng Việt Nam từ
sớm, quân Khmer Đỏ sử dụng tàu thuyền trên sông cùng các trận địa
pháo đánh trả quyết liệt. Biên đội PGM đi đầu sử dụng hỏa lực lần
lượt chế áp các hỏa điểm địch, bắn chìm 1 giang thuyền Monitor trang
bị pháo 105mm và 20mm. Đến 16h30, trên đường hành quân biên đội tiếp
tục bắn chìm thêm 1 tàu, bắn cháy 1 sở chỉ huy trung đoàn địch.
Chiều tối hôm đó, các tàu PGM tiến vào Neak Loeung, tiêu diệt trận
địa pháo chốt chặn của Khmer Đỏ sau 10 phút chiến đấu, sau đó đánh
lui các đơn vị phòng thủ của địch và làm chủ khu vực.
Trưa 7-1-1979, biên đội PGM cùng
Trung đoàn 962 tiếp tục tiến về Phnom Penh và triển khai yểm trợ lục
quân vượt sông. Trong khi các đơn vị của Quân đoàn 4 tiến vào chiếm
lĩnh thành phố, trong các ngày 7-1 và 8-1 biên đội PGM cơ động tuần
tra trong khu vực, tìm diệt các mục tiêu của Khmer Đỏ còn lại, bắn
chìm thêm 1 phà chở 1 ô tô và 2 khẩu pháo 57mm. Đến 19h00 tối 8-1,
những nhóm tàn quân địch cuối cùng rút chạy khỏi khu vực Phnom Penh.
Biên đội PGM của Hải đội 811 đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ sau 2
ngày hành quân chiến đấu mở đường gần 100km trên Sông Me Kong.
Sau khi hoàn thành nhiệm vụ chiến đấu
đợt 1, Quân chủng Hải quân khẩn trương bước vào đợt 2 với mục tiêu giải
phóng Thị xã và Đảo Koh Kong cùng các đảo còn lại trong vùng biển
Tây Nam. 19h30 ngày 15-1-1979, lực lượng tham chiến từ Kampong Som xuất
phát trực chỉ Koh Kong.
Sáng 16-1-1979, đội hình của Hạm
đội 171 gồm các tàu HQ-01, HQ-03, HQ-05, HQ-07, 4 tàu K-62 (197, 199, 203,
205) và 4 tàu PGM (602, 605, 607, 613) dàn quân bao vây Đảo Koh Kong và
tiến hành pháo kích trong nhiều giờ. Đến 12h45, Lữ đoàn hải quân
đánh bộ 101 bắt đầu thực hành đổ bộ. Được không quân và hải quân
yểm trợ, đến tối ngày hôm đó, Đảo Koh Kong được giải phóng.
Hải quân Việt Nam đổ bộ
giải phóng Koh Kong, tháng 1-1979.
Sáng 17-1-1979, Hải quân Việt Nam
tiếp tục phát triển tiến công Thị xã Koh Kong. Lúc 11h40, hỏa lực
trên các tàu hải quân bắt đầu khai hỏa. Đến 12h45, lực lượng của Lữ
đoàn hải quân đánh bộ 126 bắt đầu xuất phát và chia thành 2 cánh đổ
bộ dưới sự chi viện trực tiếp của các tàu K-62 và PGM. Đến 17h00,
các tàu PGM dùng hỏa lực bắn yểm trợ trực tiếp cho bộ binh tiêu
diệt số quân Khmer Đỏ cố thủ trên điểm cao cuối cùng ở ngoại vi thị
xã. 19h00 ngày 17-1-1979, Koh Kong – thị xã cuối cùng của Campuchia
được giải phóng.
Đồng thời, từ ngày 10-1 đến
21-1-1979, Quân Tình nguyện Việt Nam cũng tổ chức đổ bộ giải phóng
các đảo còn lại trong vùng biển Tây Nam như Kiến Vàng, Keo Ngựa, Tre Mắn,
An Tây, Hòn Nước, Phú Dự… Ngày 17-1-1979, các tàu PGM 603, 607, 615 của
Hải đoàn 127 vận chuyển và yểm trợ cho bộ binh của Tiểu đoàn Hòn
Đốc đổ bộ chiếm Đảo Hòn Trọc (Đảo Wai), 1 biên đội khác của Hải
đoàn 127 gồm 2 tàu PGM hiệp đồng với thuyền dân của huyện đội Phú Quốc chở
Đại đội 2 Nam Du giải phóng Đảo Koh Tang.
Chiến dịch giải phóng biên giới
Tây Nam và Campuchia của Hải quân Nhân dân Việt Nam mà trong đó các
tuần duyên hạm PGM đã đóng một vai trò hết sức đắc lực đã kết thúc
với thắng lợi hoàn toàn. Với thành tích chiến đấu xuất sắc, cùng
với nhiều đơn vị khác của Hải quân, ngày 20-12-1979, Hải đội 811 (Hải
đoàn 2, Hạm đội 171) với các tàu PGM làm nòng cốt được tuyên dương
danh hiệu Đơn vị Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.
Thực hiện nghĩa vụ
quốc tế – bảo vệ Tổ quốc từ xa
Trên thực tế, mặc dù lãnh thổ
Campuchia đã được giải phóng nhưng quân Khmer Đỏ chưa bị tiêu diệt hoàn
toàn. Được các thế lực ngoại quốc trong khu vực và trên thế giới hà
hơi, các nhóm tàn quân phản động tiếp tục duy trì các hoạt động
chống phá cách mạng Campuchia. Vì vậy Quân Tình nguyện Việt Nam – bao
gồm cả lực lượng hải quân ngay lập tức phải bước vào cuộc chiến
đấu mới, tiếp tục truy quét tàn quân địch, giúp nước bạn giữ vững
thành quả giải phóng.
Trên hướng Koh Kong, để ngăn chặn quân
Khmer Đỏ đi lại phía ngã 3 sông Kep, tạo thế tấn công vào đất liền, ngày
1-2-1979, phân đội PGM của Hải đoàn 127 cùng 1 đại đội pháo 85mm yểm
trợ cho Đại đội 11, Tiểu đoàn 6, Lữ đoàn hải quân đánh bộ 101
đổ bộ tấn công chiếm điểm cao 27 sau 8 giờ chiến đấu, và đưa đại đội pháo 85mm
lên điểm cao khống chế địch.
Tàu hải quân thuộc Hải
đoàn 127, Vùng 5 Hải quân tham gia chiến đấu ở Campuchia, tháng
1-1979.
Đầu tháng 5-1979, Tiền phương Bộ Tổng
Tham mưu, Bộ Tư lệnh Hải quân chính thức giao cho Vùng 5 Hải quân thực hiện
nhiệm vụ quốc tế, trong đó giúp bảo vệ toàn bộ vùng biển, đảo của
Campuchia, đồng thời tiếp tục chiến đấu truy quét tàn quân Khmer Đỏ
và giúp nước bạn xây dựng chính quyền.
Lúc này, các tàu PGM của Vùng 5
Hải quân trở thành lực lượng nòng cốt đảm nhiệm vai trò trực chiến
trên biển, có nhiệm vụ tuần tra bảo vệ Cảng Kampong Som, kiểm soát
vùng biển từ Ream, Koh Kong tới đường hải biên Campuchia – Thái Lan, xua
đuổi tàu cá Thái Lan đánh bắt trái phép, đồng thời phục kích ngăn
chặn hoạt động xâm nhập của các tàu gián điệp biệt kích, tàu tiếp
tế đường sông biển cho các nhóm vũ trang phản động Campuchia. Các đơn
vị hải quân Quân Tình nguyện Việt Nam phải thực hiện nhiệm vụ trong
điều kiện quân số, trang bị suy giảm nghiêm trọng, khí tài xuống cấp,
hư hỏng, chỉ có thể bảo đảm hoạt động cho 30-40% tàu chiến đấu. Tuy
nhiên những đợt hoạt động vây bắt hàng năm với sự tham gia của các
tàu PGM đã bắt giữ hàng chục tàu thuyền, xua đuổi hàng trăm chiếc,
góp phần ngăn chặn xâm nhập của địch qua đường biển và hỗ trợ kịp
thời cho các hoạt động truy quét trên bộ.
Đầu năm 1989, Vùng 5 Hải quân
chuyển giao phần lớn vùng biển Campuchia cho Hải quân Campuchia quản
lý. Lực lượng PGM lúc này chỉ còn lại 3 tàu – trong đó có 1 chiếc
hoạt động được tham gia duy trì tuần tra vòng ngoài trên tuyến đảo
Thổ Chu – Hòn Trọc – Koh Tang và phía bắc Phú Quốc.
Bộ đội Hải quân Quân
Tình nguyện Việt Nam rút về nước, tháng 9-1989.
Sau hơn 10 năm thực hiện nghĩa vụ
quốc tế, tháng 9-1989, Quân Tình nguyện Việt Nam rời Campuchia về
nước. Ngày 23-9-1989, các đơn vị cuối cùng của bộ đội Hải quân mà
đại diện là Vùng 5 Hải quân lên tàu rời Cảng Kampong Som cập bến Phú
Quốc, hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc từ xa. Sau khi
trở về Việt Nam, 2 tàu PGM cuối cùng vẫn tiếp tục phục vụ trong đội
hình Hải đội 512 tàu tuần tiễu, Lữ đoàn 127, Vùng 5 Hải quân cho đến
giai đoạn đầu thập niên 1990 và sau đó được loại biên, kết thúc sứ
mệnh lịch sử của mình trong biên chế Hải quân Nhân dân Việt Nam.






















