Trong thời gian chiến tranh Việt Nam, ngoài những trận không chiến giữa Không quân và Hải quân Mỹ với Không quân Việt Nam và Triều Tiên thì ít người biết rằng còn diễn ra những trận đối đầu giữa máy bay Mỹ và Trung Quốc trên biển Đông cũng như khu vực biên giới Việt-Trung.
Ngày 9-4-1965 cuộc đụng độ đầu tiên diễn ra giữa 4 máy bay
tiêm kích bom F-4B Phantom II của Hải quân Mỹ và 4 máy bay tiêm kích J-5
(phiên bản MiG-17 do Trung Quốc chế tạo) của Trung Quốc trên vùng trời
gần đảo Hải Nam. Theo phía Mỹ, biên đội 2 chiếc F-4B thuộc
Phi đoàn tiêm kích số 96 (VF-96) “Fighting Falcons”, Không đoàn không quân hạm số
9 (CVW-9) của Hải quân Mỹ trên tàu sân bay USS Ranger (CV-61) lúc này đang trong quá trình nhận chuyển giao nhiệm
vụ tuần phòng cảnh giới (BARCAP) trên vịnh Bắc Bộ từ 2 chiếc F-4B khác đã bị
J-5 tấn công. Kết quả là chiếc F-4B số 151403 bị bắn rơi sau khi đã bắn hạ 1 chiếc J-5, cả 2
phi công là Trung úy Terence Meredith Murphy và Thiếu úy Ronald James Fegan
đều thiệt mạng.
Theo
phía Trung Quốc thì cuộc đụng độ xảy ra vào 8 giờ 20 sáng sau khi 2
tốp máy bay Mỹ xâm phạm vùng trời Trung Quốc. Khi Trung đoàn 24, Sư
đoàn 8 Hải quân Trung Quốc cho 4 chiếc tiêm kích J-5 cất cánh từ sân
bay Lăng Thủy trên đảo Hải Nam lên ngăn chặn, các F-4B đã khai hỏa
trước và bắn tổng cộng 6 đến 7 tên lửa. Trong
quá trình cơ động quần vòng, một chiếc
F-4B trong nỗ
lực nhằm bắn chiếc J-5 của phi công Lý Đại Vân đã vô tình phóng tên
lửa AIM-7 trúng máy bay của đồng đội. Cả 4 máy bay Trung Quốc đều hạ
cánh an toàn.
Ảnh 1. F-4B số 151403 của Hải quân Mỹ
bị bắn rơi ngày 9-4-1965.
Ngày 20-9-1965, tiêm kích F-104C
Starfighter số
56-0883 thuộc Phi đoàn tiêm kích chiến thuật số 436 (436 TFS), Không
đoàn chiến thuật số 479 (479 TFW) của Không quân Mỹ phối thuộc cho
Không đoàn chiến thuật số 6252 (6252 TFW) xuất phát từ Đà Nẵng thực
hiện nhiệm vụ tuần phòng đã bay lấn vào vùng trời đảo Hải Nam. Lúc
11 giờ 28, Trung đoàn 10, Sư đoàn 4 Hải quân Trung Quốc xuất kích 2 tiêm kích
J-6 (phiên bản MiG-19 do Trung Quốc chế tạo) do phi công Cao Tường và
Hoàng Phượng Sinh lái lên đánh chặn. Cao Tường tiếp cận và khai hỏa
trúng chiếc F-104C ở cự ly 300m, Đại úy phi công Phillip Eldon Smith nhảy
dù bị dân quân Trung Quốc bắt làm tù binh và đến ngày 15-3-1973 mới được
trao trả. Tổn thất của Không quân Mỹ còn không dừng lại ở đó khi 2
chiếc F-104C khác của Phi đoàn 436 trong quá trình bay tìm kiếm phi
công Smith đã đâm vào nhau, tuy nhiên cả 2 phi công đều nhảy dù và được
giải cứu.
Ảnh 2. F-104C Starfighter số 56-0883 của Không quân
Mỹ bị bắn rơi ngày 20-9-1965 qua gun camera.
Ảnh 3. Đại úy phi công Phillip Eldon Smith của Không
quân Mỹ bị Trung Quốc bắt làm tù binh.
Ngày 5-10-1965, theo phía Trung Quốc, lúc 12 giờ 35 máy bay tác
điện tử RA-3D của Mỹ xâm phạm không phận Quảng Tây, Trung Quốc. Biên
đội 4 chiếc J-6 thuộc Trung đoàn 25, Sư đoàn 9 Không quân Trung Quốc
xuất kích từ Long Châu do các phi công Trương Vận Bảo, Tôn Bính Quân,
Trương Chân Phương và Ông Kế Xương lái lần lượt tấn công và đã bắn hạ
chiếc RA-3D sau 55 giây chiến đấu. Tuy nhiên các dữ liệu từ phía Mỹ
không công nhận mất bất cứ chiếc RA-3 nào trong ngày hôm đó.
Ngày 12-4-1966, máy bay tiếp dầu KA-3B số 142653 thuộc
Phi đoàn cường kích hạng nặng số 4 (VAH-4) “Fourrunners“, Không đoàn không
quân hạm số 11 (CVW-11) của Hải quân Mỹ sau khi bảo dưỡng ở căn cứ
Subic, Phillipines trên đường trở về tàu sân bay USS Kitty Hawk (CVA-63) đã
bay vào khu vực bán đảo Lôi Châu lúc 13 giờ 10. Biên đội gồm 2 chiếc J-6
thuộc Trung đoàn 76, Sư đoàn 26 Không quân Trung Quốc do phi công Dương Kiện
Toàn và Lý Lai Hy lái được lệnh xuất kích đánh chặn. Lý Lai Hy tiếp
cận và khai hỏa ở cự ly 300m. Chiếc KA-3B bốc cháy đâm xuống biển, cả
4 thành viên phi hành đoàn là Thiếu tá William Albert Glasson, Trung úy
Larry Micheal Jordan, Thượng sĩ Reuben Beaumont Harris và Hạ sĩ nhất
Kenneth Ward Pugh đều thiệt mạng.
Ảnh 4. KA-3B Skywarrior s/n 142653 của Hải quân Mỹ
trong một phi vụ tiếp dầu năm 1965.
Ngày 9-9 và 17-9-1966, theo
phía Trung Quốc, các máy bay J-6 thuộc Sư đoàn 18 Không quân do phi công
Cao Tú Minh và Cao Trường Cát lái đã bắn bị thương cường kích F-105
của Không quân Mỹ trên vùng trời Đông Hưng, Quảng Tây. Phía Mỹ không có
thông tin về những trận đụng độ này.
Ngày 24-4-1967, theo phía Trung
Quốc, lúc 17 giờ 09, tốp 2 chiếc F-4B Phantom II của Hải quân Mỹ xâm
phạm vùng trời Quảng Tây. Một chiếc bị pháo cao xạ bắn rơi. Chiếc
còn lại trong quá trình thoát ly đã bị biên đội 4 máy bay J-5 thuộc
Trung đoàn 78, Sư đoàn 26 Không quân Trung Quốc truy kích và bị phi công
Tống Nghĩa Dân bắn hạ bằng 3 loạt đạn, bốc cháy đâm xuống biển.
Thông tin phía Mỹ không xác nhận tổn thất này. Theo họ, chiếc F-4B duy
nhất bị bắn rơi trong ngày hôm đó là F-4B số 153000 thuộc Phi đoàn
tiêm kích số 114 (VF-114) "Aardvarks", Không
đoàn không quân hạm số 11 (CVW-11) của
Hải quân Mỹ xuất kích từ tàu sân bay USS Kitty Hawk (CVA-63).
Chiếc F-4B này làm nhiệm vụ tuần phòng khống chế mục tiêu (TARCAP)
để yểm hộ cho các biên đội vào đánh sân bay Kép và Hòa Lạc. Trên
thực tế chiếc F-4B trên bị pháo cao xạ của Việt Nam bắn bị thương,
sau đó bị phi công Nguyễn Văn Bảy của Trung đoàn tiêm kích 923 KQNDVN
bắn hạ, 2 phi công nhảy dù và được giải cứu.
Ngày 26-6-1967, chiếc tiêm kích
F-4C Phantom II số 63-7577 thuộc Phi đoàn tiêm kích chiến thuật số 390 (390
TFS) “Blue Boar”, Không đoàn chiến thuật số 366 (366 TFW) Không quân Mỹ ở căn
cứ Đà Nẵng đang hộ tống 1 chiếc F-4 khác trên hành trình từ căn cứ Clark,
Phillipines đến Đà Nẵng. Theo phía Trung Quốc, tốp F-4C này đã nhiều lần
xâm phạm vùng trời đảo Hải Nam, nên đến 16 giờ 58, biên đội 2 chiếc J-6
thuộc Trung đoàn 16, Sư đoàn 6 Hải quân Trung
Quốc do phi công Vương Trụ Thư và Lã Kỷ Lương
lái được lệnh cất cánh. Tốp J-6 tấn công khi chiếc F-4C đang ở phía
nam đảo Hải Nam khoảng 40km. Chiếc F-4C bị trúng nhiều phát đạn pháo
30mm từ cả 2 máy bay J-6 ở cự ly 200-250m và đâm xuống biển ở khu vực
phía nam cảng Du Lâm. Phi hành đoàn gồm Thiếu tá J. C. Blandford và
Trung úy J. M. Jarrvis nhảy dù và được trực thăng của Hải quân Mỹ giải cứu.
Ảnh 5. F-4C Phantom II số 63-7577 của Không quân Mỹ
bị bắn rơi ngày 26-6-1967.
Ngày 21-8-1967, biên đội 3 cường
kích A-6A Intruder thuộc Phi đoàn cường kích số 196 (VA-196) “Main Battery”,
Không đoàn không quân hạm số 14 (CVW-14) xuất phát từ tàu sân bay USS
Constellation (CVA-64) vào đánh ga Đông Anh. Chiếc A-6A chỉ huy số 152638
bị Tiểu đoàn 63, Trung đoàn tên lửa 236 của Việt Nam bắn rơi tại chỗ,
2 chiếc còn lại trong quá trình thoát ly đã bay lạc lên phía bắc và xâm
phạm không phận Trung Quốc lúc 13 giờ 10. Theo tín hiệu radar do Hải
quân Mỹ thu được, tốp A-6A này vượt qua biên giới 17km thì bị 4 chiếc
J-6 thuộc Trung đoàn 52, Sư đoàn 18 Không quân Trung Quốc đánh chặn trên vùng
trời Ninh Minh, Quảng Tây. Chỉ trong 1 phút 30 giây, cả 2 chiếc A-6A mang
số 152625 và 152627 đều bị phi công Trần Phong Hà và Hàn Thụy Giai bắn hạ,
rơi xuống khu vực Đông Hưng và Ninh Minh. Trong số 4 phi công Mỹ, chỉ có Đại
úy Robert James Flynn nhảy dù và bị bắt làm tù binh, sau đó được trao trả ngày
15-3-1973, số còn lại gồm Thiếu tá Jimmy Lee Buckley, Trung úy Dain
Vanderlin Scott và Trung úy Forrest George Trembley đều thiệt mạng.
Ảnh 6. Đại úy phi công Robert James Flynn của Hải quân
Mỹ bị Trung Quốc bắt làm tù binh.
Ngày
14-2-1968, cường kích A-1H Skyraider số 134499 thuộc Phi đoàn cường kích số 25
(VA-25) “Fist of the Fleet”, Không đoàn không quân hạm số 15 (CVW-15) của Hải
quân Mỹ trên tàu sân bay USS Coral Sea (CVA-43) hộ tống 1 máy bay tác
chiến điện tử EA-1F thuộc Phi đoàn cảnh báo hạm số 13 (VAW-13) trên
đường từ căn cứ Subic, Phillipines trở về tàu sau bảo dưỡng. Trong quá trình
bay, tốp A-1 đã bay chệch lên phía bắc, lấn vào vùng trời phía đông đảo Hải
Nam và bị 2 chiếc tiêm kích J-5 thuộc Trung đoàn 18, Sư đoàn 6 Không quân
Hải quân Trung Quốc đánh chặn. Kết quả là phi công Trần Vũ Lục bắn rơi chiếc
A-1H, Trung úy phi công Joseph Patrick Dunn nhảy dù nhưng sau đó mất tích và
được cho là đã thiệt mạng. Theo phía Trung Quốc thì phi công Vương Thuận
Nghĩa bắn rơi chiếc EA-1F, tuy nhiên phía Mỹ không công nhận và cho
biết chiếc EA-1F này hạ cánh an toàn ở Đà Nẵng. Đây cũng là vụ
đụng độ cuối cùng giữa máy bay Mỹ và Trung Quốc trong thời gian
chiến tranh Việt Nam.
Ảnh 7. A-1H số 134499 của Hải
quân Mỹ bị bắn rơi ngày 14-2-1968.







Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét