Thứ Bảy, 29 tháng 1, 2022

USS Sculpin và chuyến đi bí mật cuối cùng của đoàn tàu không số

 

Tháng 3-1972, nhằm tăng cường khả năng ngăn chặn tiếp tế bằng đường biển từ miền Bắc, Hải quân Mỹ quyết định sử dụng tàu ngầm tấn công hạt nhân USS Sculpin (SSN-590) thuộc lớp Skipjack theo dõi tàu vận tải của Hải quân Nhân dân Việt Nam từ khu vực xuất phát ở gần đảo Hải Nam (Trung Quốc) vào đến miền Nam Việt Nam, sau đó tiêu diệt trong hải phận Việt Nam trước khi kịp bốc dỡ hàng.

Theo lời kể của Đô đốc Charles R. Larson (lúc đó là Trung tá, thuyền phó USS Sculpin), ngày 10-4-1972 USS Sculpin chiếm lĩnh vị trí tuần tra ngoài khơi đảo Hải Nam. Ngày 12-4, tàu 645 thuộc Đoàn 125 do thuyền trưởng Lê Hà và chính trị viên Nguyễn Văn Hiệu chỉ huy xuất phát lần thứ 3, chở theo 70 tấn đạn dược, 1 tấn thuốc nổ và nhiều hàng hóa khác. Sau khi so sánh dữ liệu ảnh chụp, đồng thời đối chiếu với hướng đi bất thường về phía bờ biển phía tây Philippines, USS Sculpin xác định 645 là tàu vận chuyển vũ khí và bắt đầu theo dõi. Điều này được xác nhận thêm sau khi tàu 645 chuyển hướng ngoặt về phía nam.


Tàu ngầm tấn công hạt nhân USS Sculpin (SSN-590)

USS Sculpin theo dõi 645 qua kính tiềm vọng và sonar thụ động nhờ vào âm thanh khá đặc trưng từ trục và cánh quạt chân vịt. Để bám đuôi tàu 645 di chuyển với tốc độ khoảng 20km/h, USS Sculpin duy trì tốc độ không quá 37km/h ở độ sâu 60m, cách đáy 9 đến 24m. Ban đầu mọi việc tiến triển thuận lợi, tuy nhiên sau đó tàu 645 chuyển hướng về phía đông, đi vào một khu vực có nhiều đá ngầm, rạn san hô và xác tàu đắm (có lẽ để tránh bị theo dõi). Điều này buộc USS Sculpin quyết định tính toán và chuyển hướng đi vòng để đón đầu 645. Trong thời gian đó máy bay trinh sát P-3 Orion của Hải quân Mỹ được yêu cầu bí mật tiếp tục giám sát từ trên cao để thay thế.

USS Sculpin gặp khá nhiều khó khăn trong quá trình theo dõi khi phải bám theo 645 qua những khu vực có nhiều dàn khoan dầu hoạt động, hoặc khu vực tuyến đường thủy nhiều tàu bè qua lại. Sau khi tiến sâu xuống phía nam, tàu 645 ngoặt sang phía tây rồi chuyển hướng tây bắc. Đối với phía Mỹ, đây là dấu hiệu rõ ràng cho thấy tàu 645 chuẩn bị cập bờ tiếp tế vũ khí. Lúc này MACV ra lệnh cho USS Sculpin tiến hành chụp ảnh làm bằng chứng, đồng thời sẵn sàng tiêu diệt bằng ngư lôi. Để thực hiện nhiệm vụ này, USS Sculpin phải lặn sâu xuống 27m, chỉ cách đáy 6m rồi tăng tốc vượt lên trước đón đầu, kính tiềm vọng chỉ nhô lên khoảng 15cm trong 6s để chụp ảnh để tránh bị phát hiện.

Cách bờ biển Việt Nam khoảng 100 hải lý, USS Sculpin mất dấu 645 trong khoảng 2 giờ khi tàu chuyển hướng sang tây bắc, tàu 645 đã tắt máy và đèn khiến cho sonar và kính tiềm vọng của USS Sculpin mất tác dụng, việc sử dụng radar sục sạo cũng không mang lại kết quả. Trước tình hình đó, dựa theo hành trình được tính toán, USS Sculpin quyết định tăng tốc vượt lên trước khoảng 30 hải lý, đón đầu 645 tại điểm dự đoán, đồng thời yêu cầu máy bay trinh sát P-3 Orion tìm kiếm quanh khu vực mất dấu. Máy bay trinh sát đã phát hiện được 645 nhờ đặc điểm sơn màu trắng, sau đó USS Sculpin cũng xác định lại được mục tiêu.

Ban đầu MACV đề nghị cho phép USS Sculpin đánh chìm 645 bằng ngư lôi, tuy nhiên Đô đốc John Sidney McCain Jr. (bố của phi công John McCain, lúc này đang bị bắt làm tù binh ở miền Bắc), tư lệnh Bộ chỉ huy Thái Bình Dương không chấp nhận và yêu cầu giao lại cho Hải quân Việt Nam Cộng hòa.

Ngày 22-4 và 23-4-1972, tàu 645 vào đến điểm chuyển hướng, cách Phú Quốc khoảng 60 hải lý, với ý định chờ đến đêm sẽ cập bờ. 14h chiều 22-4-1972, tàu hộ tống khu trục (Việt Nam Cộng hòa gọi là khu trục hạm) lớp Edsall số hiệu  HQ-4 Trần Khánh Dư của Hải quân Việt Nam Cộng hòa được lệnh báo động và rời cảng Sài Gòn.


 "Khu trục hạm" HQ-4 Trần Khánh Dư

14h ngày 23 tháng 4,tàu 645 nhận được điện của Sở chỉ huy báo cho biết trong đêm sẽ có thuyền đón ở mũi Cà Mau, nhưng có điện báo bến động nên quay ra hải phận quốc tế. Tối 23-4,  HQ-4 và 2 tàu chiến khác của Việt Nam Cộng hòa phát hiện 645 trên vùng biển vịnh Thái Lan bằng radar và tiếp cận khi tàu cách bờ 25-30 hải lý với ý đồ bắt sống. Sáng 24-4,  HQ-4 đã kèm chặt 645, xác định được đây là tàu vận tải của miền Bắc và quan sát được cả các vị trí đặt súng máy 12,7mm trên tàu. Sau nhiều nỗ lực gọi hàng và bắn uy hiếp không có kết quả,  HQ-4 dùng pháo 76,2mm khai hỏa thẳng vào 645 làm tàu bị cháy, một số thủy thủ thương vong. Tàu 645 vừa cố gắng cơ động ra xa vừa bắn trả bằng 12,7mm, B-40, B-41. Tuy nhiên khoảng 11h, tàu bị trúng đạn vào lái, mất khả năng điều khiển. Chính trị viên Nguyễn Văn Hiệu yêu cầu cho thủy thủ đoàn rời tàu trong khi mình nán lại để hủy tài liệu và đặt kíp nổ phá tàu.

Theo phía Việt Nam Cộng hòa, tàu 645 đã bị đạn pháo của  HQ-4 bắn nổ tung, trong khi theo Hải quân Nhân dân Việt Nam, chính trị viên Nguyễn Văn Hiệu đã chủ động ở lại điểm hỏa khi tàu ở cách xa thủy thủ đoàn nhất để tránh thương vong cho đồng đội.

Trong số thủy thủ đoàn 645 có 6 người hy sinh bao gồm cả Chính trị viên Nguyễn Văn Hiệu, 16 người (trong đó 6 bị thương) bị Hải quân Việt Nam Cộng hòa bắt làm tù binh, bao gồm cả Thuyền trưởng Lê Hà. Năm 1973 thủy thủ đoàn được trao trả sau Hiệp định Paris. Chính trị viên Nguyễn Văn Hiệu được truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân năm 1978.


Liệt sỹ, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Nguyễn Văn Hiệu

Mặc dù có nhiều dấu hiệu, bao gồm cả nội dung liên lạc từ 645 do USS Sculpin thu được cho thấy dường như thủy thủ đoàn nghi ngờ có tàu ngầm bám theo mình nhưng các tài liệu của Hải quân Nhân dân Việt Nam xuất bản về sau không nhắc đến điều này mà cho rằng 645 bị máy bay và tàu mặt nước của Hải quân Việt Nam Cộng hòa phát hiện gần bờ biển Việt Nam, trong khi trên thực tế tàu đã bị tàu ngầm USS Sculpin theo dõi gần như liên tục trên hành trình khoảng 2500 hải lý (khoảng 4600km).

Sự kiện tàu 645 kết thúc giai đoạn vận chuyển bí mật bằng tàu không số kéo dài 10 năm (4-1962 đến 4-1972) của Đoàn 125 với tổng cộng 168 chuyến và 6105 tấn vũ khí cho chiến trường. Cũng bắt đầu từ đây, Đoàn 125 chuyển hoàn toàn sang phương thức vận chuyển mới: tổ chức các đoàn đánh cá công khai, có đăng ký hợp pháp ở miền Nam, sử dụng tàu gỗ 2 đáy, vừa đánh cá, chở hàng thuê vừa chớp thời cơ vận chuyển vũ khí trên những chặng ngắn ở miền Nam hoặc ra thằng miền Bắc nhận vũ khí. Với phương thức mới này, Hải quân Nhân dân Việt Nam đã thực hiện thành công 31 chuyến, đưa được 520 tấn vũ khí vào Trà Vinh và Cà Mau.

 

Xe tăng 706 - anh hùng hụt của Trung Quốc năm 1979

 

Mô tả của phía Trung Quốc về các sự kiện như sau:

Chiều 19-2-1979, Đại đội xe tăng 7, Tiểu đoàn 3 dẫn đầu đội hình Trung đoàn xe tăng Quân đoàn 42 của Trung Quốc tiến công trên hướng từ Đông Khê theo Đường số 4 về Thị xã Cao Bằng. Đây là trung đoàn xe tăng hạng nhẹ, trang bị 106 xe tăng K-62-85 (Type-62), 13 thiết giáp K-63 và 4 xe hỗ trợ.

Lúc 13h35, Đại đội 7 tổ chức vượt qua cầu số 9 (?) - một cây cầu đá đã bị công binh Việt Nam đặt mìn phá hủy một phần. Chỉ chiếc đi đầu của Trung đội 1 mang số hiệu 706 qua được trước khi cầu sập, chiếc thứ hai phải dừng lại và bị bắn cháy. Toàn bộ đội hình phía sau phải dừng lại và mất liên lạc với xe 706.

Xe 706 tiếp tục lao thẳng về Thị xã Cao Bằng với tốc độ 40km/h. Trên đường chiếc xe này bị trúng đạn làm trưởng xe trung đội trưởng Tạ Vinh Sinh bị thương nặng và pháo hai Dương Bỉnh Nam tử trận. Lái xe Lưu Yên Huy và pháo thủ Trịnh Hải Thạch tiếp tục điều khiển xe vừa chạy vừa bắn trả. Chiếc xe này chạy vào trong Thị xã Cao Bằng, sau đó vượt qua cầu và chạy lên đồi Nà Toòng (điểm cao 316). Bộ đội Việt Nam bao vây tấn công và bắn cháy xe. 2 lính tăng Trung Quốc phải trốn vào rừng, sau đó bị bắt làm tù binh chiều 21-2-1979 trong khi đang ra ngoài tìm thức ăn.

Quân Trung Quốc làm chủ thị xã ngày 25-2-1979 và tìm thấy xác xe tăng. Cho rằng cả 4 thành viên kíp lái đều đã chết trong chiến đấu, chỉ huy đơn vị này đã viết báo cáo ca ngợi thành tích và đề nghị phong danh hiệu "anh hùng chiến xa" cho xe 706. Phóng viên của xưởng Bát Nhất được điều đến quay phim chụp ảnh để làm thành phim tài liệu. Tuy nhiên giữa lúc đấy thì Đài Tiếng nói Việt Nam cho phát thanh lời khai của các tù binh Trung Quốc, trong đó có pháo thủ Trịnh Hải Thạch. Thế là tất cả đều bị hủy bỏ.

Kết thúc đợt chiến đấu tháng 2-1979, các xe 704, 705, 708 của Trung đội 1 đều được phía Trung Quốc tặng huân chương Nhất đẳng công, chỉ riêng xe 706 được coi như biến mất khỏi lịch sử.

 



Xác xe 706 nằm lại trên đồi Nà Toòng, ảnh do PV Trần Mạnh Thường chụp.

Chủ Nhật, 23 tháng 1, 2022

Phi công Ace KQNDVN

 

Vài “fact” về các phi công Ace của Không quân Nhân dân Việt Nam. 

Theo số liệu tạm coi là mới nhất (được khảo sát trong cuốn Những trận không chiến trên bầu trời Việt Nam xuất bản 2013), trong Kháng chiến chống Mỹ có tổng cộng 19 phi công Không quân Nhân dân Việt Nam được ghi nhận từ 5 chiến công trở lên, tương đương danh hiệu Ace. 

Ở đây mở ngoặc thêm, vì sao nhiều bài báo lại nói là 16 Ace? Nguyên nhân là các bài viết này thường dịch từ nguồn phương Tây, trong đó họ không tính thành tích bắn rơi UAV nên đã bỏ qua 2 người là Liệt sỹ Đặng Ngọc Ngự và Phi công Nguyễn Văn Nghĩa (đều hạ 4 chiếc có người lái). Ngoài ra còn 1 trường hợp đặc biệt của Liệt sỹ Võ Văn Mẫn. Thực tế thì trong các tài liệu chính thức của Không quân Nhân dân Việt Nam, Liệt sỹ Võ Văn Mẫn được ghi nhận 4 chiến công (2 F-4, 1 F-8, 1 F-105). Tuy nhiên các tác giả của Những trận không chiến trên bầu trời Việt Nam sau khi đối chiếu diễn biến các trận đánh của 2 bên đã xác định Liệt sỹ Võ Văn Mẫn còn có thêm 1 F-4 vào ngày 24-4-1967. 

Trong số 19 Ace thì có 6 Ace MiG-17 – đứng đầu là Phi công Nguyễn Văn Bảy (A) với 7 chiến công và 13 Ace MiG-21 – đứng đầu là Phi công Nguyễn Văn Cốc với 9 chiến công. MiG-19 (thực ra là J-6) của VN được đưa vào chiến đấu muộn trong bối cảnh tác chiến đường không của Mỹ đã có rất nhiều cải tiến nên kết quả khá hạn chế, không có phi công nào bắn rơi trên 1 chiếc. 

Tính ở thời điểm lập công, các Ace MiG-17 đều thuộc Trung đoàn không quân 923 (đoàn Yên Thế). Ace MiG-21 có 9 người thuộc Trung đoàn không quân 921 (đoàn Sao Đỏ), 2 người thuộc Trung đoàn không quân 927 (đoàn Lam Sơn) và 2 người lập công khi chiến đấu ở cả 2 trung đoàn 921 và 927. 

Phi công Nguyễn Nhật Chiêu (Trung đoàn 921) là Ace duy nhất lập công trên cả 2 loại máy bay: ngày 20-9-1965 bắn hạ 1 F-4 bằng MiG-17 và sau đó trong năm 1967 bắn hạ 1 F-105, 4 F-4 bằng MiG-21. Các Ace còn lại đều lập công trên 1 loại máy bay duy nhất mặc dù có không ít người từng lái MiG-17 trước khi chuyển sang MiG-21. 

Nếu tính thành tích bắn rơi máy bay có người lái, có 4 vị trí đồng hạng nhất với 7 chiến công là Phi công Nguyễn Văn Cốc, Phi công Nguyễn Hồng Nhị, Phi công Phạm Thanh Ngân (MiG-21) và Phi công Nguyễn Văn Bảy (A) (MiG-17). 

Phi công Nguyễn Hồng Nhị và Phi công Phạm Thanh Ngân là người giữ kỷ lục bắn hạ nhiều loại máy bay Mỹ nhất (6 loại). “Đơn điệu” nhất là Phi công Lê Thanh Đạo, chỉ có 1 loại duy nhất là F-4 (6 chiếc). 

Trong số các chiến công, có 1 vài mục tiêu đặc biệt, đó là các máy bay tác chiến điện tử, 1 RC-47 được ghi công cho Phi công Lưu Huy Chao ngày 29-7-1966 và 1 EB-66 được ghi công cho Phi công Nguyễn Đăng Kính ngày 19-11-1967. 

Phi công Nguyễn Tiến Sâm là người có thời gian xác lập danh hiệu Ace nhanh nhất khi chỉ mất đúng 3 tháng (từ ngày 5-7 đến 5-10-1972) để bắn hạ 5 chiếc F-4. Về phía MiG-17 là Liệt sỹ Lê Quang Trung với thời gian từ 12-6 đến 9-10-1966. Nói về chuỗi ghi điểm có thể kể thêm Phi công Nguyễn Hồng Nhị, từ 31-8 đến 7-11-1967 đã liên tiếp hạ 5 chiếc có người lái (trước đó ngày 4-3-1966 Phi công Nguyễn Hồng Nhị bắn rơi chiếc đầu tiên là 1 UAV).

Phi công Vũ Ngọc Đỉnh là Ace duy nhất được ghi công bắn rơi 2 máy bay trong 1 trận (2 F-105 ngày 17-12-1967). Ngoài ra Phi công Vũ Ngọc Đỉnh là 1 trong 2 trường hợp hiếm hoi của Không quân Nhân dân Việt Nam được ghi công bắn hạ trực thăng (1 chiếc H-53 ngày 28-1-1970).

Có 3 Ace đã hy sinh trong chiến đấu, và người thứ 4, Liệt sỹ Lê Quang Trung hy sinh trong lúc bay huấn luyện bằng MiG-15UTI/JJ-2 khi đang là Thiếu tá, Trung đoàn trưởng Trung đoàn không quân 925, 1 điều rất đáng tiếc.

Và điều cuối cùng khá hiển nhiên là cả 19 phi công Ace của Không quân Nhân dân Việt Nam đều đã được phong danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.