Chủ Nhật, 19 tháng 12, 2021

"Viet Nam must be crushed"

 

Hai tuần sau Toàn quốc kháng chiến 1946, Bộ trưởng Hải ngoại Pháp Marius Moutet tới Việt Nam. Moutet trực tiếp đi thị sát mặt trận Hà Nội trên xe bọc thép và đã chứng kiến 2 lính Pháp trúng đạn bắn tỉa chỉ cách mình chừng chục mét. Trả lời phỏng vấn sau đó, Moutet tuyên bố phải giải quyết vấn đề Việt Nam bằng biện pháp quân sự trước khi tiến hành bất cứ cuộc đàm phán hòa bình nào.

Trước đó vài ngày, trên đài phát thanh, Cao ủy Pháp, Đô đốc d'Argenlieu đe dọa sẽ trừng trị nặng nề các nhà lãnh đạo bản xứ (tức VNDCCH). Phát biểu của các đại diện nước Pháp không phải đe dọa suông. Trong thời gian này, hàng ngàn lính Pháp cùng với trang bị đã và đang được được vận chuyển sang Việt Nam.

Những gì sau đó là lịch sử đã biết. Moutet chết năm 1968, d'Argenlieu năm 1964. Cả hai đều đã sống tới ngày nhìn thấy Điện Biên Phủ đầu hàng.




Chủ Nhật, 5 tháng 12, 2021

Random readings (1)

Nhớ một ngày cuối tháng 4/1977. Hôm ấy tôi trực chỉ huy ở hậu cứ Binh đoàn. Tôi nhận được tin cấp trên thông báo là quân địch dùng mấy sư đoàn kéo theo lúc nhúc những dân binh vuợt kinh Vĩnh Tế sang chiếm Núi Dài, Nhà Bàn,Tịnh Biên… bao vây định chiếm thị xã Châu Đốc, tàn sát dân ta, đốt phá xóm làng mà đồng bào ta mới dựng lại sau mười năm chiến tranh chống Mỹ. Theo lệnh của cấp trên, Binh Đoàn phải phái ngay một đơn vị xuống An Giang và toàn Binh đoàn sẵn sàng chiến đấu.

Biết đồng chí Mười Kim Phó tư lệnh Đoàn 9, đang nghỉ phép  gần hậu cứ binh đoàn, tôi phái sĩ quan tác chiến đi mời đồng chí về nhận nhiệm vụ. Đồng chí Mười Kim, 47 tuổi, vừa mới cưới vợ được 8 tháng. Đồng chí được gọi giữa lúc đang xoay trần cuốc đất trồng mấy vồng khoai lang. Đồng chí quăng cuốc vào nhà không kịp tắm rửa, chỉ lau sơ rồi choàng bộ quân phục, thắt dây súng ra đi. Chị Mười mới có thai được 3 tháng, đứng dựa cột nhìn chồng hỏi :

- Giặc giả nữa à! Đi nữa à?

Anh Mười Kim cười đáp:

- Giặc thiệt chứ giặc giả gì, đi gấp, má nó cuốc nổi thì trồng cho líp chỗ đất đó.

Anh trèo lên xe, chị đứng tựa cửa trông theo... Từ ấy anh Mười Kim trở về thăm nhà được hai lần nữa. Và bây giờ thì anh đã hy sinh.

-----------------------------------------------

"Đường vào Phnom Penh", Bùi Cát Vũ



Thứ Năm, 25 tháng 11, 2021

"Tây mũ đỏ"

Nói tới Hà Nội 60 ngày đêm 1946 thì có 1 khái niệm thường hay được sách báo, phim ảnh của ta sử dụng cho đến tận bây giờ là “Tây mũ đỏ” hay “Lê dương mũ đỏ”. “Lê dương mũ đỏ” thì ai quan tâm đến lịch sử sẽ đều biết là không có. Lính Lê dương (Légion étrangère) Pháp có đồng phục truyền thống là mũ kepi trắng và từ 1948 có thêm mũ nồi (beret) xanh lá cây chứ không bao giờ chơi mũ đỏ. Và thực chất thì trong Hà Nội 60 ngày đêm cũng không có đơn vị Lê dương nào tham gia.

Mũ đỏ thì có thật. Đó là đơn vị biệt kích dù mang tên Tiểu đoàn 1, Bán lữ đoàn dù SAS – 1 trong 2 tiểu đoàn dù đầu tiên được Pháp đưa tới Đông Dương. Cả 2 được xây dựng theo mô hình tác chiến của SAS Anh. Quân số gồm quân nhân tình nguyện đến từ nhiều đơn vị biệt kích dù từng tham gia chiến đấu trong WW2, trong đó có không ít cựu binh từng được huấn luyện và chiến đấu trong chính biên chế SAS Anh. Chính vì vậy 2 tiểu đoàn SAS Pháp sử dụng luôn chiếc mũ nồi đỏ của lính dù Anh làm đồng phục.

(Nói thêm là thời này mỗi đơn vị dù của Pháp lại đội một kiểu mũ nồi: đỏ, đen, xanh lam, xanh lá cây… chỉ có các tiểu đoàn nhận truyền thống thoát thai SAS là mũ đỏ. Đến năm 1951 tướng Đờ Lát mới học theo Mỹ, cho hết binh chủng dù (trừ Lê dương) dùng chung đỏ). 

Dù vậy biệt kích dù SAS – aka "Tây mũ đỏ" không phải là lực lượng chiến đấu chủ yếu của Pháp ở Liên khu 1 Hà Nội theo kiểu trận nào cũng có mặt như truyền thông của ta vẫn thể hiện. Lực lượng chính của Pháp vẫn là bộ binh thường. Phim Hà Nội mùa đông năm 46 tạo hình lính Pháp tấn công Bắc Bộ phủ đội mũ sắt thay vì mũ nồi đỏ như trong phim Sống mãi với Thủ đô, đây là chi tiết rất chính xác. 

Lúc Toàn quốc kháng chiến, Tiểu đoàn 1 SAS đóng ở Sân bay Gia Lâm (tất nhiên). Họ không sang Hà Nội ngay. Thay vào đó thì một bộ phận tập trung càn quét xung quanh Gia Lâm (lúc này vẫn thuộc Bắc Ninh) để tạo vành đai bảo vệ sân bay và Cầu Đuống. Một bộ phận thì được phối thuộc cho cánh quân từ Gia Lâm lên đánh giải vây và đón quân đồn trú ở Thị xã Bắc Ninh và Phủ Lạng Thương (Bắc Giang) rút về đầu tháng 1-1947. Một bộ phận nữa từ Sài Gòn ra tăng viện thì được ném ngay xuống Nam Định ngày 6-1-1947. 

Tiểu đoàn 1 SAS bắt đầu tham chiến ở Hà Nội giữa tháng 1-1947, nhưng chủ yếu là trong các cuộc hành quân giải tỏa vành đai ngoại thành : Vĩnh Tuy (15-1), Yên Duyên (18-1), Bưởi (20-1), Nhật Tân (25-1), Mai Dịch (7-2)... Trong các trận này, biệt kích dù thường được sử dụng làm các mũi vu hồi. Họ sẽ xuất phát trong đêm, bí mật thọc sâu áp sát các trận địa VN trước khi mũi tấn công chính bằng thiết giáp bắt đầu. Các vị trí bị "Tây mũ đỏ" tấn công sau này trong sách báo Việt Nam thường mô tả là bị tập kích bằng đổ bộ từ cano hoặc xe lội nước theo Sông Hồng hoặc Hồ Tây, cho thấy là lính dù Pháp đã thành công trong việc giữ được bí mật gần như tuyệt đối quá trình hành quân bộ. 

Kể từ cuối tháng 1-1947, Tiểu đoàn 1 SAS mới bắt đầu tham chiến trong nội thành Liên khu 1. Đa số là tuần tra, đụng độ lẻ tẻ. Chỉ có 2 trận đánh tạm coi là lớn là Khách sạn Hoa Nam Phố Hàng Giấy (23-1-1947) và Chợ Đồng Xuân (14-2-1947). 

Việc truyền thông Việt Nam nhầm lẫn về vai trò của "Tây mũ đỏ" ở Hà Nội có thể từ mấy nguyên nhân.

Lính dù Pháp là đối tượng gây ra nhiều vụ khiêu khích ở Hà Nội, ví dụ như vụ phá nhà thông tin Tràng Tiền (báo Cứu quốc của ta viết về vụ này có tả là lính Pháp phá phách, xé cờ VN xong thì treo cờ tam tài có chữ SAS lên tường để thị uy – xác nhận thủ phạm chính là lính dù Pháp). Trước Toàn quốc kháng chiến 1 hôm, ngày 18-12-1946, biệt kích dù Pháp cũng lùng sục khu vực Đồng Xuân để tìm 1 lính dù mất tích trước đó 2 tuần, gây ra xung đột và thương vong cho nhiều thường dân VN. Đội mũ đỏ nổi bật đi gây chuyện thì đương nhiên là dân ta ghi thù. 

(Truyện và phim Sống mãi với Thủ đô có chi tiết nhân vật Nhật Tân bắn chết 1 thằng Tây mũ đỏ ở Phố Hàng Khoai, tự vệ phải đem giấu xác để tránh phiền hà. Đây rất có thể là sự việc có thật, chính là vụ tay lính dù mất tích kia). 

Thứ hai là trong trận Chợ Đồng Xuân – trận đánh nổi tiếng nhất của Liên khu 1 Hà Nội thì biệt kích dù Pháp là mũi chủ công đánh vào chợ và trực tiếp đánh giáp lá cà với Vệ quốc đoàn. Với thành phần toàn cựu binh dày dạn từ WW2, ắt hẳn là khả năng tác chiến của lính SAS Pháp cũng đã gây ra 1 ấn tượng nhất định trong mắt đối thủ của họ. Cộng thêm trang phục nổi bật (tập 2) nên về sau "Tây mũ đỏ" trở thành hình ảnh đại diện cho quân Pháp ở Hà Nội.

 

SAS Anh trong WW2. SAS Pháp ở Đông Dương thời kỳ đầu có lẽ cũng sẽ ăn mặc và trang bị gần như vậy.




Thứ Hai, 11 tháng 10, 2021

Lược sử tuần duyên hạm PGM trong biên chế HQNDVN

Sau ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, trong biên chế Hải quân Nhân dân Việt Nam đã xuất hiện thêm một lực lượng tàu tuần tiễu quan trọng, đó là các tuần duyên hạm PGM thu giữ từ Hải quân Việt Nam Cộng hòa.


Nguồn gốc

Đầu thập niên 1960, quân đội Mỹ đã phát triển và chế tạo nhiều phiên bản pháo hạm tuần tra kiểu PGM (Patrol, Gunboat, Motor) để phục vụ cho nhu cầu kiểm soát duyên hải, ngăn chặn các hoạt động xâm nhập, vận tải đường biển của hải quân nhiều nước đồng minh như Phillipines, Thái Lan, Indonesia, Thổ Nhĩ Kỳ, Iran, Ecuador, Dominica, Peru… Trong đó số lượng trang bị đáng kể nhất là cho Hải quân Việt Nam Cộng hòa.

Những tàu PGM đầu tiên được biên chế cho Hải quân Việt Nam Cộng hòa thuộc phiên bản PGM-59 được khởi công và hạ thủy đầu năm 1963. Tháng 5-1963, Mỹ chính thức bàn giao 5 tàu PGM đầu tiên do Tập đoàn Đóng tàu J.M Martinac thi công tại Tacoma, Washington. Đến tháng 2-1964, Hải quân Việt Nam Cộng hòa tiếp tục được chuyển giao thêm 3 đợt, nâng tổng số tàu trang bị lên 12 chiếc PGM-59 với số hiệu từ HQ-600 đến HQ-611.

HQ-605 Kim Qui - tàu lớp PGM-59 đầu tiên được chuyển giao cho Hải quân Việt Nam Cộng hòa. 

Từ tháng 1-1966, sau 3 đợt viện trợ bổ sung thì đến tháng 4-1967, Hải quân Việt Nam Cộng hòa có thêm 8 tàu tuần tra PGM-71, mang số hiệu từ HQ-612 đến HQ-619.

Các phiên bản PGM-59 và PGM-71 nhìn chung không có quá nhiều khác biệt, với lượng giãn nước từ 122-130 tấn, dài khoảng 30,7m, rộng khoảng 6,4-6,7m, mớn nước khoảng 2,6m. Tàu có tốc độ 17-18 hải lý/giờ, tầm hoạt động 630 hải lý, thủy thủ đoàn khoảng 20 người. Hỏa lực trên tàu gồm 1 bệ pháo 40mm đơn, 2 bệ pháo 20mm đôi, 2 súng máy 12,7mm và một số tàu còn có thêm 1 bệ súng cối 81mm bắn trực xạ.

Tất cả các tàu PGM-59/71 đều được Hải quân Việt Nam Cộng hòa định danh là “tuần duyên hạm”, biên chế cho Hải đội 1 Tuần duyên thuộc Hạm đội Trung ương với nhiệm vụ tuần tiễu ngăn chặn ven biển, yểm trợ hỏa lực cho hoạt động tác chiến trên bộ cũng như hộ tống các đoàn vận tải trên sông biển. Chúng đã gây ra một số khó khăn, tổn thất nhất định cho các hoạt động của Quân Giải phóng miền Nam. Một số tàu vận tải “không số” từ miền Bắc chở vũ khí cho miền Nam gặp phải các cuộc hành quân vây bắt của Hải quân Việt Nam Cộng hòa có sự tham gia của các tuần duyên hạm PGM đã không thể phá vây thành công, phải chấp nhận phá hủy tàu hoặc bị đối phương thu giữ.

HQ-612 Thái Bình, tàu lớp PGM-71 đầu tiên được chuyển giao cho Hải quân Việt Nam Cộng hòa. 

Ngày 30-4-1975, cuộc Tổng tiến công và nổi dậy xuân 1975 giành thắng lợi hoàn toàn, miền Nam Việt Nam được giải phóng. Toàn bộ các lực lượng vũ trang của chế độ Việt Nam Cộng hòa nhanh chóng tan rã, bỏ lại một số lượng lớn vũ khí trang bị, bao gồm hàng trăm tàu thuyền hải quân nói chung và nhiều tuần duyên hạm PGM nói riêng bị Quân Giải phóng miền Nam thu giữ.

Cũng cần nói thêm là trong số này, có những tàu ban đầu bỏ chạy ra nước ngoài nhưng sau đó các sĩ quan và thủy thủ Việt Nam Cộng hòa đã quyết định quay trở về với Tổ quốc. Một ví dụ điển hình là trường hợp của chiếc tuần duyên hạm PGM số hiệu HQ-602 Minh Hòa. Chiến hạm này đã cùng với một số tàu khác thuộc Vùng 4 duyên hải của Việt Nam Cộng hòa đào tẩu và cập cảng Singapore ngày 5-5-1975 rồi tiếp tục khởi hành tới Philippines ngày 9-5-1975. Tuy nhiên khi đi ngang ngoài khơi Vũng Tàu đêm 12-5-1975, các sĩ quan và thủy thủ HQ-602 đã tiến hành binh biến, sau đó gây áp lực buộc hạm phó phải đưa tàu quay lại Việt Nam và cập bến Cảng Bạch Đằng đêm 14-5-1975.

HQ-602 Minh Hòa tại Cảng Bạch Đằng, Sài Gòn, tháng 5-1975. 

Tổng cộng Hải quân Nhân dân Việt Nam đã thu giữ được 586 tàu thuyền, trong đó có 246 tàu thuyền chiến đấu, tuy nhiên chỉ có 162 chiếc có thể sử dụng ngay. Các tư liệu lịch sử sau này có thể xác nhận trong số đó có ít nhất 11 tàu PGM được biên chế và sử dụng lại sau ngày giải phóng:

6 chiếc PGM-59 mang số hiệu 601 (nguyên là HQ-601 Tiên Mối của Việt Nam Cộng hòa), 602 (nguyên là HQ-602 Minh Hòa), 603 (nguyên là HQ-603 Kiến Vàng), 605 (nguyên là HQ-605 Kim Qui), 606 (nguyên là HQ-606 Mây Rút) và 607 (nguyên là HQ-607 Nam Du).





5 chiếc PGM-71 mang số hiệu 612 (nguyên là HQ-612 Thái Bình), 613 (nguyên là HQ-613 Thị Tứ), 614 (nguyên là HQ-614 Song Tử), 615 (nguyên là HQ-615 Tây Sa) và 619 (nguyên là HQ-619 Thổ Châu).




Chiến đấu bảo vệ biên giới Tây Nam

Trên thực tế thì nếu so với đối thủ tương đối “đồng hạng cân” là các tàu pháo tuần tra K-62 (lớp Thượng Hải) do Trung Quốc chế tạo được Hải quân Nhân dân Việt Nam sử dụng từ năm 1965 thì các tàu PGM-59/71 có phần hơi “lép vế”. Không chỉ trội hơn về hỏa lực với 2 bệ pháo 37mm đôi, 2 bệ pháo 25mm đôi và một số tàu còn gắn thêm 1 khẩu ĐKZ-82mm, K-62 còn áp đảo PGM về tốc độ khi có thể đạt tới 28,5 hải lý/giờ. Tuy nhiên với tình hình trang bị hết sức thiếu thốn của Hải quân Nhân dân Việt Nam lúc đó thì đây vẫn là một sức mạnh bổ sung cực kỳ quan trọng. Điều này càng có ý nghĩa hơn trong bối cảnh nguy cơ chiến tranh ở biên giới Tây Nam đã cận kề, và Hải quân Nhân dân Việt Nam đang phải căng mình bảo vệ một vùng biển rộng lớn trải dài từ Bắc vào Nam.

Tính đến lúc này, những chiếc PGM mới nhất cũng đã có lịch sử gần 10 năm hoạt động liên tục. Nguồn vật tư bảo đảm hậu cần, kỹ thuật không tương đồng với các trang bị của khối Xã hội Chủ nghĩa, chỉ có thể dựa vào số chiến lợi phẩm tồn kho. Tuy nhiên vượt lên những khó khăn, Hải quân Nhân dân Việt Nam đã nhanh chóng đưa các chiến hạm này vào trực chiến. Các tàu PGM được biên chế trong đội hình Hải đội 811, Hải đoàn 2, Hạm đội 171 – hạm đội chủ lực cơ động đầu tiên của Hải quân Nhân dân Việt Nam và sau đó có thêm Hải đội 513, Hải đoàn 127, Vùng 5 Hải quân. Đầu năm 1978, nhiều tàu PGM đã được cải biên thay thế các bệ pháo 40mm, 20mm và súng máy 12,7mm nguyên bản của Mỹ bằng các bệ pháo 37mm và súng máy 14,5mm của khối Xã hội Chủ nghĩa. Một số tàu còn được gắn thêm dàn pháo phản lực 12 nòng 107mm H-12 của Trung Quốc để tăng cường hỏa lực khi cần tấn công các tàu địch ở tầm xa cũng như bắn phá các mục tiêu trên bộ.




Hệ thống vũ khí nguyên bản trên tàu PGM.

Từ năm 1977 chế độ diệt chủng Khmer Đỏ ở Campuchia đẩy mạnh leo thang chiến tranh xâm lược ở biên giới Tây Nam. Trên biển, Hải quân Khmer Đỏ huy động những phân đội thuyền máy có trọng tải từ 20 đến 60 tấn, vũ trang bằng ĐKZ và súng máy 12,7mm, được các tàu tuần tiễu và phóng lôi do Trung Quốc cung cấp yểm trợ, liên tục xâm phạm, uy hiếp hải phận Việt Nam. Là các tàu tuần tra chiến đấu mạnh nhất của Hải quân Việt Nam trong khu vực, những tuần duyên hạm PGM được trang bị vũ khí mới và trong tay những người chủ mới đã kiên quyết xung trận bảo vệ Tổ quốc và liên tiếp giành thắng lợi.

Trận đánh đầu tiên của PGM trên vùng biển Tây Nam diễn ra vào tối 1-4-1978 giữa biên đội PGM số hiệu 601 và 614 thuộc Hải đội 811 (Hải đoàn 2, Hạm đội 171) phối thuộc cho Vùng 5 và 3 thuyền vũ trang của Khmer Đỏ xâm phạm khu vực Hòn Long - Hòn Đốc, Hà Tiên. Trong trận đầu ra quân này các tàu PGM của Hải quân Việt Nam đã giành chiến thắng tuyệt đối, bắn chìm 2 thuyền, bắn trọng thương 1 chiếc khác và trở về an toàn.

Một tuần sau, tối 8-4-1978, biên đội PGM 601 và 614 tiếp tục đánh thắng trận thứ hai. Sau khi phát hiện 6 thuyền máy vũ trang 20 tấn của Khmer Đỏ xâm nhập vùng biển Hà Tiên, rạng sáng ngày 9-4-1978, biên đội nổ súng tấn công, bắn chìm 2 thuyền và bắn trọng thương 2 thuyền địch.

Tối 21-5-1978, Khmer Đỏ lại cho một số thuyền máy vũ trang 60 tấn xâm phạm vùng biển Hà Tiên. Biên đội PGM số hiệu 612 và 619 của Hải đội 811 phục kích sau khoảng 30 phút chiến đấu đã bắn chìm 1 thuyền và trọng thương 2 thuyền địch. Tuy nhiên trong trận đánh các tàu PGM cũng đã chịu tổn thất khi bị trúng đạn ĐKZ làm hỏng nhẹ, đồng thời hy sinh 1 và bị thương 3 chiến sĩ.

Với những chiến công đầu tiên, lực lượng PGM đã góp phần đắc lực vào việc bảo vệ chủ quyền Việt Nam trên vùng biên giới Tây Nam.

Tham gia chiến dịch giải phóng Campuchia

Ngày 23-12-1978, Quân đội Nhân dân Việt Nam mở màn chiến dịch phản công hiệp đồng binh chủng quy mô lớn, giải phóng các vùng lãnh thổ đang bị quân Khmer Đỏ chiếm đóng trái phép, đồng thời vượt qua biên giới hỗ trợ nhân dân Campuchia lật đổ chế độ diệt chủng Pol Pot. Phối hợp với các mũi tiến công trên bộ và trên không, ngày 3-1-1979, các lực lượng hải quân bắt đầu xuất phát, hình thành một đòn đột kích bằng đường biển với nhiệm vụ giải phóng các cảng và hải đảo của Campuchia. Toàn bộ lực lượng PGM của Hạm đội 171 và Hải đoàn 127 được huy động chiến đấu trên các hướng chiến dịch. Đối thủ của Hải quân Nhân dân Việt Nam lúc này là lực lượng hải quân và phòng thủ bờ biển của Khmer Đỏ với hơn 100 tàu thuyền, trong đó có khoảng 20-30 tàu chiến đấu do Trung Quốc và Mỹ chế tạo, khoảng 30 thuyền vũ trang và gần 100 khẩu pháo mặt đất và pháo cao xạ các loại.

Trên hướng chủ công, tối 6-1-1979, đội hình tiến công của Hạm đội 171 tiến vào khu vực đổ bộ ở vùng biển chân núi Tà Lơn, Kampong Som. Trong đêm 6-1 và rạng sáng 7-1-1979, hải quân Khmer Đỏ 2 lần cho các tàu thuyền vũ trang xuất phát từ khu vực đảo Hòn Nước, Phú Dự và cảng Ream định tập kích vào đội hình đổ bộ của Hải quân Việt Nam. Cả 2 đợt tập kích này đều bị các chiến hạm của Biên đội 2 bẻ gãy, giành thắng lợi đầu tiên của chiến dịch. Trong những trận đánh này, các tàu HQ-05, HQ-07, K-62 203, 215 và PGM 613 hiệp đồng tác chiến đã bắn chìm 2 tàu pháo lớp Thượng Hải và bắn bị thương 2 thuyền vũ trang khác của Khmer Đỏ, bảo vệ an toàn cho Lữ đoàn hải quân đánh bộ 126 đánh chiếm đầu cầu.

Tàu hải quân Hạm đội 171 tham gia chiến dịch giải phóng Campuchia tháng 1-1979. 

Các tàu PGM của Hải đoàn 127, Vùng 5 hải quân sau khi hoàn thành nhiệm vụ cảnh giới sườn phía đông cho Hạm đội 171 đổ bộ ở Kampong Som, đến ngày 8-1-1979 cũng được lệnh tăng cường cho Hạm đội 171 tổ chức thành 2 tốp đột kích làm nhiệm vụ trinh sát, đánh phá các mục tiêu trên bờ, dọn bãi đổ bộ đánh chiếm quân cảng Ream.

Sáng 9-1-1979, Hạm đội 171 triển khai đội hình tiếp cận Ream. Hải quân Khmer Đỏ tiếp tục cho 2 tàu phóng lôi lớp Hồ Xuyên từ khu vực đảo Kohrong Raloem định tấn công chiến hạm HQ-03. Cuộc tập kích này cũng bị biên đội PGM (603, 615) và biên đội K-62 (197, 205) phối hợp đánh bại, buộc các tàu Khmer Đỏ phải tháo chạy. Tàu HQ-03 được bảo vệ an toàn.


Tàu hải quân Hạm đội 171 tham gia chiến dịch giải phóng Campuchia tháng 1-1979. 

Trưa 9-1-1979, Sở chỉ huy Quân chủng phát lệnh cho các đơn vị tiến hành tổng công kích lần cuối vào cả 2 cảng Kampong Som và Ream. Tốp đột kích 1 có chiến hạm HQ-01 pháo kích từ xa, biên đội K-62 (199, 203) trực tiếp yểm trợ cho biên đội PGM (605, 606, 607) tấn công Ream. Tốp đột kích 2 có chiến hạm HQ-03 pháo kích từ xa, biên đội K-62 (197, 205) trực tiếp yểm trợ cho biên đội PGM (602, 603, 615) tấn công vào Kampong Som. Tuy nhiên chiều 9-1, trong quá trình triển khai lực lượng, nhận thấy quân Khmer Đỏ còn chống cự mạnh nên Hạm đội 171 quyết định cho tốp đột kích 2 dừng lại để tập trung đánh chiếm từng cảng.

Trên hướng đột kích 1, các tàu PGM 605, 606, 607 tiến vào cách cảng Ream 2 hải lý gặp phải hỏa lực cối 81mm trong cảng và súng máy 12,7mm ở bắc Hòn Bãi bắn chặn. Biên đội dàn hàng ngang pháo kích bằng hỏa tiễn H-12 và pháo 37mm nhưng trước sự kháng cự của địch, trong khi trời sắp tối và xét thấy khả năng chưa thể vào cảng, Hạm đội 171 quyết định cho các tàu PGM dừng lại và lùi ra xa thả trôi.

Sáng 10-1-1979, Hạm đội 171 tiếp tục tiến công. Trên hướng Kampong Som lực lượng tiến công gồm các tàu HQ-01, HQ-03, 4 tàu K-62 (197, 199, 203, 205), 2 tàu PGM (612, 615) và 2 tàu PCF (101, 3268). Sau khi biên đội trinh sát gồm PGM 615 và 2 tàu PCF phát hiện quân Khmer Đỏ đã rút khỏi cảng, các tàu chiến của Hải quân Việt Nam nhanh chóng tiến vào cảng triển khai phòng thủ, đồng thời bắt liên lạc với lực lượng đổ bộ của Lữ đoàn hải quân đánh bộ 126. 08h15 ngày 10-1-1979, cảng Kampong Som chính thức được Quân đoàn 2 và Hải quân Nhân dân Việt Nam giải phóng.


Hải quân Việt Nam đổ bộ trong chiến dịch giải phóng Campuchia, tháng 1-1979. 

Trên hướng Ream, từ 09h30 sáng cuộc chiến đấu của các tàu HQ-05, HQ-07 cùng 4 tàu PGM (602, 605, 606, 607) với các trận địa pháo địch bắt đầu và diễn ra quyết liệt suốt nhiều giờ. Kết hợp với hỏa lực 76mm trên HQ-05 và HQ-07, các tàu PGM cũng dùng pháo trên hạm và hỏa tiễn H-12 pháo kích để mở đường cho các tàu vận tải chở lực lượng của Lữ đoàn hải quân đánh bộ 101 tiến vào cảng. Đến 14h15, mũi đột kích đầu tiên của 2 tàu PCF cập được cảng và đổ bộ binh đánh chiếm bàn đạp. Đến 17h15 ngày 10-1-1979, cảng Ream cũng đã được giải phóng.

Trong khi đại bộ phận lực lượng của Hạm đội 171 tham gia chiến đấu trên hướng biển, Hải đội 811 được lệnh cử 3 tàu PGM số hiệu 601, 612, 619 tham gia mũi tiến công đường sông gồm 44 tàu chiến đấu và vận tải (PCF, LCM-6, LCM-8, thuyền xi măng) của Trung đoàn 962, Quân khu 9 chở bộ binh. Cánh quân này tiến dọc theo Sông Me Kong giải phóng Thủ đô Phnom Penh, đồng thời bảo vệ sườn cho hướng tiến công trên bộ của Quân đoàn 4. Biên đội PGM đóng vai trò là mũi nhọn đánh địch mở đường.


PGM 619 của Hải đội 811 trên đường hành quân giải phóng Phnom Penh, tháng 1-1979. 

14h30 chiều 6-1-1979, hướng tiến công trên sông xuất phát từ Tân Châu. Phát hiện lực lượng Việt Nam từ sớm, quân Khmer Đỏ sử dụng tàu thuyền trên sông cùng các trận địa pháo đánh trả quyết liệt. Biên đội PGM đi đầu sử dụng hỏa lực lần lượt chế áp các hỏa điểm địch, bắn chìm 1 giang thuyền Monitor trang bị pháo 105mm và 20mm. Đến 16h30, trên đường hành quân biên đội tiếp tục bắn chìm thêm 1 tàu, bắn cháy 1 sở chỉ huy trung đoàn địch. Chiều tối hôm đó, các tàu PGM tiến vào Neak Loeung, tiêu diệt trận địa pháo chốt chặn của Khmer Đỏ sau 10 phút chiến đấu, sau đó đánh lui các đơn vị phòng thủ của địch và làm chủ khu vực.

Trưa 7-1-1979, biên đội PGM cùng Trung đoàn 962 tiếp tục tiến về Phnom Penh và triển khai yểm trợ lục quân vượt sông. Trong khi các đơn vị của Quân đoàn 4 tiến vào chiếm lĩnh thành phố, trong các ngày 7-1 và 8-1 biên đội PGM cơ động tuần tra trong khu vực, tìm diệt các mục tiêu của Khmer Đỏ còn lại, bắn chìm thêm 1 phà chở 1 ô tô và 2 khẩu pháo 57mm. Đến 19h00 tối 8-1, những nhóm tàn quân địch cuối cùng rút chạy khỏi khu vực Phnom Penh. Biên đội PGM của Hải đội 811 đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ sau 2 ngày hành quân chiến đấu mở đường gần 100km trên Sông Me Kong.

Sau khi hoàn thành nhiệm vụ chiến đấu đợt 1, Quân chủng Hải quân khẩn trương bước vào đợt 2 với mục tiêu giải phóng Thị xã và Đảo Koh Kong cùng các đảo còn lại trong vùng biển Tây Nam. 19h30 ngày 15-1-1979, lực lượng tham chiến từ Kampong Som xuất phát trực chỉ Koh Kong.

Sáng 16-1-1979, đội hình của Hạm đội 171 gồm các tàu HQ-01, HQ-03, HQ-05, HQ-07, 4 tàu K-62 (197, 199, 203, 205) và 4 tàu PGM (602, 605, 607, 613) dàn quân bao vây Đảo Koh Kong và tiến hành pháo kích trong nhiều giờ. Đến 12h45, Lữ đoàn hải quân đánh bộ 101 bắt đầu thực hành đổ bộ. Được không quân và hải quân yểm trợ, đến tối ngày hôm đó, Đảo Koh Kong được giải phóng.


Hải quân Việt Nam đổ bộ giải phóng Koh Kong, tháng 1-1979. 

Sáng 17-1-1979, Hải quân Việt Nam tiếp tục phát triển tiến công Thị xã Koh Kong. Lúc 11h40, hỏa lực trên các tàu hải quân bắt đầu khai hỏa. Đến 12h45, lực lượng của Lữ đoàn hải quân đánh bộ 126 bắt đầu xuất phát và chia thành 2 cánh đổ bộ dưới sự chi viện trực tiếp của các tàu K-62 và PGM. Đến 17h00, các tàu PGM dùng hỏa lực bắn yểm trợ trực tiếp cho bộ binh tiêu diệt số quân Khmer Đỏ cố thủ trên điểm cao cuối cùng ở ngoại vi thị xã. 19h00 ngày 17-1-1979, Koh Kong – thị xã cuối cùng của Campuchia được giải phóng.

Đồng thời, từ ngày 10-1 đến 21-1-1979, Quân Tình nguyện Việt Nam cũng tổ chức đổ bộ giải phóng các đảo còn lại trong vùng biển Tây Nam như Kiến Vàng, Keo Ngựa, Tre Mắn, An Tây, Hòn Nước, Phú Dự… Ngày 17-1-1979, các tàu PGM 603, 607, 615 của Hải đoàn 127 vận chuyển và yểm trợ cho bộ binh của Tiểu đoàn Hòn Đốc đổ bộ chiếm Đảo Hòn Trọc (Đảo Wai), 1 biên đội khác của Hải đoàn 127 gồm 2 tàu PGM hiệp đồng với thuyền dân của huyện đội Phú Quốc chở Đại đội 2 Nam Du giải phóng Đảo Koh Tang.

Chiến dịch giải phóng biên giới Tây Nam và Campuchia của Hải quân Nhân dân Việt Nam mà trong đó các tuần duyên hạm PGM đã đóng một vai trò hết sức đắc lực đã kết thúc với thắng lợi hoàn toàn. Với thành tích chiến đấu xuất sắc, cùng với nhiều đơn vị khác của Hải quân, ngày 20-12-1979, Hải đội 811 (Hải đoàn 2, Hạm đội 171) với các tàu PGM làm nòng cốt được tuyên dương danh hiệu Đơn vị Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.

 

Thực hiện nghĩa vụ quốc tế – bảo vệ Tổ quốc từ xa

Trên thực tế, mặc dù lãnh thổ Campuchia đã được giải phóng nhưng quân Khmer Đỏ chưa bị tiêu diệt hoàn toàn. Được các thế lực ngoại quốc trong khu vực và trên thế giới hà hơi, các nhóm tàn quân phản động tiếp tục duy trì các hoạt động chống phá cách mạng Campuchia. Vì vậy Quân Tình nguyện Việt Nam – bao gồm cả lực lượng hải quân ngay lập tức phải bước vào cuộc chiến đấu mới, tiếp tục truy quét tàn quân địch, giúp nước bạn giữ vững thành quả giải phóng.

Trên hướng Koh Kong, để ngăn chặn quân Khmer Đỏ đi lại phía ngã 3 sông Kep, tạo thế tấn công vào đất liền, ngày 1-2-1979, phân đội PGM của Hải đoàn 127 cùng 1 đại đội pháo 85mm yểm trợ cho  Đại đội 11, Tiểu đoàn 6, Lữ đoàn hải quân đánh bộ 101 đổ bộ tấn công chiếm điểm cao 27 sau 8 giờ chiến đấu, và đưa đại đội pháo 85mm lên điểm cao khống chế địch.

Tàu hải quân thuộc Hải đoàn 127, Vùng 5 Hải quân tham gia chiến đấu ở Campuchia, tháng 1-1979. 

Đầu tháng 5-1979, Tiền phương Bộ Tổng Tham mưu, Bộ Tư lệnh Hải quân chính thức giao cho Vùng 5 Hải quân thực hiện nhiệm vụ quốc tế, trong đó giúp bảo vệ toàn bộ vùng biển, đảo của Campuchia, đồng thời tiếp tục chiến đấu truy quét tàn quân Khmer Đỏ và giúp nước bạn xây dựng chính quyền.

Lúc này, các tàu PGM của Vùng 5 Hải quân trở thành lực lượng nòng cốt đảm nhiệm vai trò trực chiến trên biển, có nhiệm vụ tuần tra bảo vệ Cảng Kampong Som, kiểm soát vùng biển từ Ream, Koh Kong tới đường hải biên Campuchia – Thái Lan, xua đuổi tàu cá Thái Lan đánh bắt trái phép, đồng thời phục kích ngăn chặn hoạt động xâm nhập của các tàu gián điệp biệt kích, tàu tiếp tế đường sông biển cho các nhóm vũ trang phản động Campuchia. Các đơn vị hải quân Quân Tình nguyện Việt Nam phải thực hiện nhiệm vụ trong điều kiện quân số, trang bị suy giảm nghiêm trọng, khí tài xuống cấp, hư hỏng, chỉ có thể bảo đảm hoạt động cho 30-40% tàu chiến đấu. Tuy nhiên những đợt hoạt động vây bắt hàng năm với sự tham gia của các tàu PGM đã bắt giữ hàng chục tàu thuyền, xua đuổi hàng trăm chiếc, góp phần ngăn chặn xâm nhập của địch qua đường biển và hỗ trợ kịp thời cho các hoạt động truy quét trên bộ.

Đầu năm 1989, Vùng 5 Hải quân chuyển giao phần lớn vùng biển Campuchia cho Hải quân Campuchia quản lý. Lực lượng PGM lúc này chỉ còn lại 3 tàu – trong đó có 1 chiếc hoạt động được tham gia duy trì tuần tra vòng ngoài trên tuyến đảo Thổ Chu – Hòn Trọc – Koh Tang và phía bắc Phú Quốc.


Bộ đội Hải quân Quân Tình nguyện Việt Nam rút về nước, tháng 9-1989. 

Sau hơn 10 năm thực hiện nghĩa vụ quốc tế, tháng 9-1989, Quân Tình nguyện Việt Nam rời Campuchia về nước. Ngày 23-9-1989, các đơn vị cuối cùng của bộ đội Hải quân mà đại diện là Vùng 5 Hải quân lên tàu rời Cảng Kampong Som cập bến Phú Quốc, hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc từ xa. Sau khi trở về Việt Nam, 2 tàu PGM cuối cùng vẫn tiếp tục phục vụ trong đội hình Hải đội 512 tàu tuần tiễu, Lữ đoàn 127, Vùng 5 Hải quân cho đến giai đoạn đầu thập niên 1990 và sau đó được loại biên, kết thúc sứ mệnh lịch sử của mình trong biên chế Hải quân Nhân dân Việt Nam.


Thứ Năm, 7 tháng 10, 2021

Quân khuyển Mỹ trong Chiến tranh Việt Nam

 

Trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, để đối phó với các hoạt động của Quân Giải phóng, quân đội Mỹ đã huy động lực lượng quân khuyển với hàng ngàn chó nghiệp vụ.


Theo số liệu của Tiến sĩ Dr. Howard Hayes, Bác sĩ Thú y thuộc Viện Sức khỏe Quốc gia Hoa Kỳ đưa ra tháng 3/1994 dựa trên thống kê mã hiệu, có ít nhất 3.747 chó nghiệp vụ được xác nhận đã được quân đội Mỹ sử dụng ở Việt Nam. Tuy nhiên nhiều ước tính đưa ra con số 4.900 đến 5.000 trong giai đoạn chiến tranh từ 1964 đến 1975, do các hồ sơ về chó nghiệp vụ không được quân đội Mỹ duy trì cho đến trước năm 1968.

Cùng với đó, khoảng 10.000 huấn luyện viên chó nghiệp vụ cũng đã tham chiến. Chiếm tỉ lệ cao nhất trong số này là các quân nhân thuộc Lục quân (65%), tiếp đó là Không quân (26%), Thủy quân lục chiến (7%) và Hải quân (2%). Với con số này, Việt Nam trở thành cuộc chiến mà Mỹ sử dụng chó nghiệp vụ trên quy mô lớn nhất trong tất cả các cuộc xung đột thời Chiến tranh lạnh. 

Ở Việt Nam, lực lượng quân khuyển Mỹ được giao nhiều nhiệm vụ như: 

Trinh sát: thông thường trong nhiệm vụ này nhóm 1 chó béc giê Đức và 1 huấn luyện viên sẽ được phối thuộc cho đơn vị bộ binh khi có yêu cầu. Tổ quân khuyển sẽ có nhiệm vụ đi đầu đội hình đóng vai trò tai mắt cho đơn vị, cảnh giới, phát hiện các dấu hiệu có gài bẫy, phục kích, bắn tỉa, dò tìm nơi cất giấu vũ khí, lương thực của Quân Giải phóng và cảnh báo cho đơn vị đi sau. Đây là bộ phận thường phải chịu thương vong nặng nhất trong lực lượng quân khuyển. Phần lớn chó trinh sát và huấn luyện viên được đào tạo tại căn cứ Lục quân Fort Benning, Georgia (Mỹ) hoặc huấn luyện tại chỗ.

 

Ảnh 1. Chó trinh sát Mỹ ở Việt Nam năm 1966.

 Tuần tra: tổ quân khuyển gồm 1 béc giê Đức và 1 huấn luyện viên, có nhiệm vụ tuần tra vòng ngoài ở các căn cứ, kho tàng, các cơ sở quan trọng... và dùng điện đài thông báo ngay cho lực lượng bảo vệ khi có dấu hiệu khả nghi. Các nhóm chó nghiệp vụ tuần tra thường hoạt động về đêm và được sử dụng rộng rãi bởi tất cả các đơn vị đóng căn cứ ở Việt Nam cũng như Thái Lan. Chó tuần tra và huấn luyện viên phần lớn được đào tạo tại căn cứ Không quân Lackland, Texas (Mỹ), một số ở Showa, Tachikawa, Nhật hoặc tại chỗ.

 

Ảnh 2. Chó nghiệp vụ tuần tra tại Đà Nẵng năm 1969. 

Tuần tra mặt nước: chó nghiệp vụ được triển khai theo các tàu, thuyền tuần tra tốc độ thấp trên các tuyến giao thông đường sông của Mỹ nhằm phát hiện hơi thở từ các thiết bị lặn, từ đó ngăn chặn hoạt động của đặc công nước Quân Giải phóng. 

Dò mìn/bẫy/đường hầm: tổ quân khuyển cũng gồm 1 chó béc giê Đức và 1 huấn luyện viên. Đúng như tên gọi, chó nghiệp vụ có nhiệm vụ dò tìm đường hầm, các dấu vết của mìn, bẫy và các phương tiện sát thương khác để hỗ trợ các hoạt động của công binh chiến đấu Lục quân và Thủy quân lục chiến. Ngoài ra các tổ quân khuyển này còn tham gia hỗ trợ hoạt động lùng sục càn quét làng mạc và những khu vực nghi ngờ có kho tàng của Quân Giải phóng.

 

Ảnh 3. Chó nghiệp vụ thăm dò 1 cửa hầm, năm 1970. 

Nhóm tác chiến dò tìm (CTT) là một mô hình riêng được xây dựng để chống lại các hoạt động chiến tranh du kích của Việt Nam. Mỗi nhóm tác chiến này gồm 2 chó nghiệp vụ Labrador (trong đó 1 làm dự bị) và 5 lính gồm huấn luyện viên, lính tìm kiếm theo dấu vết, lính yểm trợ, điện đài viên và tổ trưởng. Dựa trên kinh nghiệm chống du kích của quân đội Anh ở Malaysia, các nhóm CTT có nhiệm vụ chủ động truy lùng Quân Giải phóng. 

Từ năm 1964 có 14 nhóm CTT được đào tạo theo giáo trình của Anh. Hoạt động huấn luyện này được tiến hành bí mật tại Trường tác chiến rừng ở Borneo, Malaysia để che giấu sự hỗ trợ về mặt quân sự của Anh và Malaysia cho cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam của Mỹ. Các chó nghiệp vụ được quân đội Anh cung cấp trong khi công tác giảng dạy do lính SAS Australia và New Zealand – 2 quốc gia có quân tham chiến trực tiếp ở Việt Nam đảm nhiệm. 

Bắt đầu từ năm 1966, quân đội Mỹ tự mở trung tâm huấn luyện riêng của mình ở căn cứ Lục quân Fort Gordon, Georgia (Mỹ). So với tổ chức ban đầu của Anh, người Mỹ có sự điều chỉnh. Các nhóm CTT được gom thành các trung đội trong sư đoàn bộ binh hoặc phân đội trong các đơn vị nhỏ hơn, số lượng chó nghiệp vụ và luyện viên trong mỗi phân đội được giảm bớt, nhưng bổ sung thêm các trinh sát là hồi chánh viên của Quân Giải phóng được đào tạo theo chương trình Kit Carson Scout.

 

Ảnh 4. Một toán tác chiến dò tìm (CTT) Mỹ ở Việt Nam năm 1970. 

Mặc dù vậy, các nhóm CTT vẫn gặp rất nhiều khó khăn. Theo số liệu thống kê, một đơn vị như vậy – Trung đội bộ binh số 63 trong thời gian từ tháng 9/1969 đến tháng 1/1971 chỉ bắt giữ được 80 người tình nghi hoạt động cho Cách mạng. Trong nhiều trường hợp, các đơn vị này mất hàng tháng trời mà không phát hiện được dấu vết của bộ đội Giải phóng hay du kích.

Quân đội Mỹ tổng kết có khoảng 350 chó nghiệp vụ và 263 huấn luyện viên đã thiệt mạng ở Việt Nam, nhiều trường hợp khác bị thương. Hoạt động của chó nghiệp vụ được cho là đã cứu mạng khoảng 10.000 lính Mỹ. 

Tuy nhiên số phận của lực lượng chó nghiệp vụ Mỹ ở Việt Nam lại khá hẩm hiu. Sau khi Hiệp định Paris 1973 được ký kết, quân đội Mỹ rút khỏi Việt Nam thì các đơn vị quân khuyển bị giải thể. Các chó nghiệp vụ được quân đội Mỹ phân loại thành trang bị bỏ đi. Trong số hàng ngàn chó nghiệp vụ chỉ có 204 con được mang theo để triển khai ở các căn cứ khác, một số ít chuyển giao cho QLVNCH tiếp tục sử dụng, số còn lại đơn giản là bị giết hoặc bị vứt bỏ.